Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng sở hữu không gian văn hóa đa dạng hàng đầu cả nước với hệ thống di sản phong phú của 49 dân tộc. Đây là lợi thế để địa phương thúc đẩy bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Phát huy giá trị di sản, tạo động lực phát triển
Lâm Đồng là nơi giao thoa của nhiều không gian văn hóa đặc trưng từ Tây Nguyên đến duyên hải Nam Trung Bộ. Từ Không gian văn hóa Cồng chiêng của đồng bào K'Ho, Mạ, M'Nông trên cao nguyên; văn hóa Chăm ở vùng ven biển Bình Thuận (cũ); đến các giá trị địa chất, khảo cổ của Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông đã tạo nên bức tranh di sản phong phú, mang đậm bản sắc và trở thành lợi thế khác biệt trong phát triển.
Hiện toàn tỉnh có 145 di tích được xếp hạng, gồm 3 di tích quốc gia đặc biệt, 59 di tích quốc gia và 83 di tích cấp tỉnh; cùng 10 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Địa phương còn sở hữu 7 danh hiệu và di sản được UNESCO ghi danh hoặc công nhận, gồm Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông, Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang, Mộc bản triều Nguyễn, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, nghệ thuật làm gốm của người Chăm và Đà Lạt - Thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực âm nhạc.
Những năm qua, tỉnh tập trung tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử; đầu tư nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở; phát triển bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa và các không gian sinh hoạt cộng đồng. Cùng với đó, công tác kiểm kê, sưu tầm, số hóa di sản được đẩy mạnh, góp phần lưu giữ lâu dài các giá trị truyền thống, đồng thời giúp người dân và du khách tiếp cận di sản thuận lợi hơn trên môi trường số.
Việc bảo tồn gắn với khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa đã từng bước tạo động lực cho phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa. Các lễ hội hoa, lễ hội trà, lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc; chương trình trình diễn cồng chiêng, làng nghề truyền thống cùng kho tàng ẩm thực bản địa đang trở thành những sản phẩm đặc trưng, góp phần nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến. Hiệu quả của hướng đi này được phản ánh qua sự tăng trưởng của ngành du lịch. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Lâm Đồng đón gần 12 triệu lượt khách, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách quốc tế đạt khoảng 825.000 lượt, tăng 18,6%. Tổng doanh thu du lịch đạt hơn 33.310 tỷ đồng, tăng trên 22% so với cùng kỳ năm 2025.
Không gian văn hóa của tỉnh tiếp tục được mở rộng với việc đưa vào khai thác Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa và Khu liên hợp Bảo tàng - Thư viện - Công viên tại phường Bắc Gia Nghĩa. Khánh thành ngày 25/7, công trình có diện tích hơn 24 ha, tổng vốn đầu tư gần 525 tỷ đồng, là tổ hợp quảng trường lớn nhất khu vực Tây Nguyên - Duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay.
Theo anh Trần Văn Minh, du khách đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, kiến trúc quảng trường lấy cảm hứng từ hình tượng miệng núi lửa - biểu tượng của Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông tạo ấn tượng mạnh. Không gian quảng trường kết hợp bảo tàng, thư viện và công viên được quy hoạch đồng bộ, hứa hẹn trở thành điểm đến mới, kết nối các tuyến tham quan địa chất, văn hóa và thương mại của địa phương.
Theo bà Nguyễn Lan Ngọc, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng, cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, địa phương xác định xây dựng hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện và giàu bản sắc là yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh. Điều giữ chân du khách không chỉ là khí hậu, cảnh quan mà còn là sự mến khách, cảm giác bình yên và những giá trị văn hóa đặc trưng của vùng đất. Mục tiêu của ngành du lịch là để mỗi du khách khi đến Lâm Đồng đều cảm thấy gần gũi như đang ở chính ngôi nhà của mình, qua đó tạo dấu ấn khác biệt và khuyến khích du khách quay trở lại.
Tăng nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa
Cùng với việc phát huy giá trị di sản, Lâm Đồng đang ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư đồng bộ cho lĩnh vực văn hóa. UBND tỉnh vừa ban hành quyết định phân bổ dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch đầu tư công năm 2026 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 (giai đoạn I từ năm 2025-2030), với tổng nguồn vốn gần 392 tỷ đồng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Võ Ngọc Hiệp yêu cầu các địa phương hoàn thành phân bổ chi tiết nguồn vốn trước ngày 10/8, khẩn trương triển khai các dự án, bảo đảm giải ngân đúng tiến độ và sử dụng hiệu quả nguồn lực được giao. Nguồn vốn tập trung đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và phát huy các giá trị văn hóa trên địa bàn. Theo đó, vốn đầu tư công được giao cho các xã, phường và đặc khu triển khai các dự án theo phân cấp; kinh phí sự nghiệp ưu tiên xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam, phát triển văn hóa đọc, đầu tư thư viện lưu động đa phương tiện, tăng cường truyền thông, quảng bá các giá trị văn hóa và nâng cấp hệ thống thư viện, thiết chế văn hóa trong trường học.
Cùng với đầu tư hạ tầng, tỉnh xác định phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Địa phương chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ thông qua số hóa di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, hiện đại hóa hoạt động của bảo tàng, thư viện và các thiết chế văn hóa. Qua đó, mở rộng khả năng tiếp cận của người dân, du khách trên môi trường số; đồng thời tạo ra các sản phẩm, dịch vụ văn hóa mới gắn với phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.
Việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa không chỉ tạo nguồn lực đầu tư đồng bộ cho hệ thống thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản mà còn góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Thời gian tới, Lâm Đồng tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội, tăng cường đào tạo nhân lực, đẩy mạnh chuyển đổi số, gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.
Tên tự gọi: Mạ.
Tên gọi khác: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ.
Nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung.
Dân số: 41.405 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Lịch sử: Người Mạ là cư dân sinh tụ lâu đời ở Tây Nguyên.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Hoạt động sản xuất: Nương rẫy đóng vai trò chủ yếu trong đời sống của người Mạ. Ðây là loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải, ở vùng sông Ðồng Nai, người Mạ làm ruộng bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng quần đất đến khi nhão bùn thì gieo lúa giống. Họ tính năng suất của rẫy theo số gùi lúa thu được khi trỉa một gùi lúa giống. Công cụ làm rẫy chủ yếu là rìu, xà gạc, dao, liềm, gậy chọc lỗ, gùi. Nghề đánh cá khá phổ biến. Trước đây, họ biết chế thuốc độc từ loại lá rừng bỏ xuống suối để bắt cá. Người Mạ nổi tiếng về nghề trồng bông dệt vải.
Ăn: Cơm gạo tẻ với muối trộn ớt, sả, măng tươi và một số loại rau rừng. Cách chế biến thức ăn chủ yếu là nướng, luộc, nấu canh. Họ thích uống rượu cần và hút thuốc lá bằng điếu khan.
Mặc: Phụ nữ mặc váy quấn dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân dài tới thắt lưng, kín tà. Nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước. Mùa lạnh, người già thường khoác thêm tấm mền. Người Mạ có tập quán cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc. Thanh niên mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có ngấn khắc chìm như là ký hiệu của các lễ hiến sinh tế thần linh, cầu mát cho chính mình.
Ở: Người Mạ thường sống thành từng làng (bon) với một khu vực đất đai riêng biệt trên các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh, Ðạ Tẻ, lưu vực sông Ðồng Nai (Lâm Ðồng). Mỗi "bon" có từ 5 đến 10 nhà sàn dài. Nhà được làm bằng nứa, bương mai, hai mái lợp bằng lá mây. Mái cửa ra vào (cửa mẹ) uốn khum thành vòm bằng cành trúc đội trên mái cỏ. Xung quanh nhà ở, Họ còn dựng nhiều kho lúa trên sàn cao. Các cột nhà kho đều trang trí theo mô típ chày cối.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là chiếc gùi nan mang sau lưng với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Chiếc gùi dùng đi xa được trang trí hoa văn qua các đường đan. ở vùng ven sông Ðồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.
Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của người Mạ do chủ làng đứng đầu (quăng bon). Chủ làng có nhiệm vụ cùng tế trong các nghi lễ mang tính chất cộng đồng. Người Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền. Người chủ gia đình lớn là người cao tuổi nhất của thế hệ cao nhất trong gia tộc, có nhiệm vụ điều hành mọi công việc trong gia đình và trông coi các đồ dùng quý hiếm như chiêng, ché.
Trong loại gia đình lớn phụ quyền, từng cặp vợ chồng với con cái ở chung nhưng làm ăn riêng, còn gia đình nhỏ phụ quyền thì như một đơn vị kinh tế cá thể nhưng vẫn lưu giữ dấu vết của gia đình lớn phụ hệ.
Ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ còn lại rất ít trong các buôn làng.
Cưới xin: Quyền chủ động hôn nhân do bên nhà trai, nhưng sau lễ cưới nếu nhà trai nộp đủ sính lễ thì đôi vợ chồng chỉ ở lại nhà gái 8 ngày, còn không, chàng trai phải ở rể đến khi nộp đủ mới được đưa vợ về nhà mình.
Sinh đẻ: Khi sinh con trai, nhau của đứa trẻ đựng trong vỏ trái bầu khô chôn trước nhà, nếu sinh con gái nhau chôn sau nhà. Sang ngày thứ 8, người mẹ bồng con ra sân tắm nắng, nếu con trai phải mang theo xà gạt, nỏ, dao vót nan, con gái mang theo gùi, rìu chẻ củi, túi đựng cơm và giới bên kia như xà gạt, rìu, ché, váy áo chôn cùng huyệt hoặc bỏ rải rác xung quanh mộ. Sau lễ mai táng thì bỏ mả và tang chủ phải kiêng 7 ngày không được vào rừng hoặc lên rẫy.
Thờ cúng: Người Mạ tin có thần (Yang). Họ thờ cúng nhiều Yang như Yang Hiu (thần nhà), Yang Koi (thần lúa), Yang Bơnơm (thần núi). Họ thường giết súc vật tế thần vào những dịp được mùa, sinh đẻ, bệnh tật, chết chóc. Lễ hiến sinh lớn nhất là lễ đâm trâu, thường được thực hiện lúc kết thúc mùa rẫy.
Lịch: Người Mạ theo âm lịch.
Học: Người Mạ không có chữ viết, nền văn hoá dân gian Mạ vẫn sống bằng lối sống nghìn xưa - thuộc lòng và truyền miệng.
Văn nghệ: Vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là "tam bớt".
Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6 chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng sừng trâu.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Mnông.
Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...
Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.
Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.
Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.
Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.
Ở: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.
Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.
Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.
Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.
Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.
Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.
Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.
Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.
Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.
Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.
Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...
Theo cema.gov.vn