Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Nhằm giúp người dân chủ động chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm bệnh tật và giảm chi phí điều trị, ngành Y tế tỉnh Điện Biên vừa đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí tại 11 đơn vị y tế trên địa bàn.

Nhằm giúp người dân chủ động chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm bệnh tật và giảm chi phí điều trị, ngành Y tế tỉnh Điện Biên vừa đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí tại 11 đơn vị y tế trên địa bàn.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Bất cập công trình đường gom dân sinh dự án cao tốc Bắc - Nam qua Đắk Lắk

Bất cập công trình đường gom dân sinh dự án cao tốc Bắc - Nam qua Đắk Lắk

Dự án thành phần đoạn Chí Thạnh - Vân Phong thuộc Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025 qua địa bàn tỉnh Đắk Lắk (viết tắt là Dự án cao tốc Chí Thạnh - Vân Phong) đang thực hiện các hạng mục công trình đường gom dân sinh phục vụ đi lại của người dân khu vực lân cận. Tuy nhiên, nhà thầu thi công thực hiện chậm tiến độ; một số đoạn công trình bị tháo dỡ hành lang an toàn, khiến gia súc tràn vào vô cùng nguy hiểm.

An Giang: Tết Quân - Dân năm 2027

An Giang: Tết Quân - Dân năm 2027

Từ trung tuần tháng 6/2026 đến 29/01/2027, Tết Quân - Dân năm 2027 của tỉnh An Giang được tổ chức tại xã Thạnh Lộc với chủ đề “Lực lượng vũ trang An Giang cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Thạnh Lộc tiếp tục chung sức xây dựng nông thôn mới”.

Chính sách mới tạo thêm động lực cho đội ngũ y tế cơ sở ở vùng cao

Chính sách mới tạo thêm động lực cho đội ngũ y tế cơ sở ở vùng cao

Từ ngày 15/7/2026, Nghị định số 192/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, quy định nhiều chính sách mới đối với đội ngũ y tế, trong đó tăng phụ cấp trực và mức hỗ trợ hằng tháng cho nhân viên y tế thôn, bản, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản. Tại Điện Biên, chính sách được kỳ vọng tạo thêm động lực để đội ngũ y tế cơ sở yên tâm công tác, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.

Cụ thể hóa thông điệp của Hội nghị Trung ương 3 bằng chuyển động thực chất từ cơ sở

Cụ thể hóa thông điệp của Hội nghị Trung ương 3 bằng chuyển động thực chất từ cơ sở

Tỉnh Tuyên Quang đang chuyển mạnh từ tư duy quản lý theo địa giới sang quản trị thống nhất không gian phát triển; gắn quy hoạch với phân cấp, dữ liệu và trách nhiệm thực thi. Đây là cơ sở để địa phương tháo gỡ những điểm nghẽn về đất đai, dự án, hạ tầng, thủ tục hành chính, đưa các nguồn lực đang phân tán thành động lực tăng trưởng mới.

Ba chuyển đổi cốt lõi ở tỉnh vùng miền núi, biên giới

Ba chuyển đổi cốt lõi ở tỉnh vùng miền núi, biên giới

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Cao Bằng Phan Thăng An khẳng định: Chuyển đổi số trước hết không chỉ là công nghệ, mà là câu chuyện của tư duy lãnh đạo và phương thức tổ chức thực hiện. Khâu đột phá quan trọng nhất chính là chuyển đổi từ tư duy quản lý truyền thống sang tư duy quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu. Cao Bằng tập trung vào ba chuyển đổi cốt lõi: nhận thức của đội ngũ cán bộ, phương thức điều hành của cơ quan nhà nước và cách tiếp cận người dân, doanh nghiệp từ “quản lý” sang “phục vụ”.

Triển khai sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập

Triển khai sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập

Chiều 22/7, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Kế hoạch số 277/KH-UBND ngày 20/7/2026 về sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và trường chuyên biệt công lập trên địa bàn tỉnh.

Xây dựng xã không ma túy ở vùng cao

Xây dựng xã không ma túy ở vùng cao

Thời gian qua, Công an xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai chủ động nhiều giải pháp trong phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma túy, xây dựng môi trường xã hội an toàn, văn minh.

Đưa pháp luật và ‘Bình dân học vụ số’ đến vùng biên Mường Khương

Đưa pháp luật và ‘Bình dân học vụ số’ đến vùng biên Mường Khương

Từ ngày 20-21/7, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai tổ chức chương trình tuyên truyền pháp luật và thông tin đối ngoại tại xã biên giới Mường Khương; thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia. Chương trình tuyên truyền góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, kỹ năng số và ý thức bảo vệ chủ quyền biên giới cho đồng bào các dân tộc.

Chung sức xây dựng đường tuần tra biên giới

Chung sức xây dựng đường tuần tra biên giới

Chiều 20/7, UBND xã Tùng Vài (tỉnh Tuyên Quang) phối hợp với Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Ban Nội chính Tỉnh ủy Tuyên Quang và các đơn vị tài trợ tổ chức khánh thành giai đoạn 1 tuyến đường tuần tra biên giới lên các cột mốc 307, 308, 309 tại thôn Thèn Ván.

Khi phụ nữ Mông trở thành tuyên truyền viên pháp luật

Khi phụ nữ Mông trở thành tuyên truyền viên pháp luật

Tại khu vực biên giới tỉnh Nghệ An, Câu lạc bộ "Phụ nữ với pháp luật" ở bản Phá Lõm đang phát huy hiệu quả thiết thực. Nhờ cách tuyên truyền gần gũi bằng chính tiếng Mông của lực lượng Biên phòng, những người phụ nữ vùng cao không chỉ được nâng cao hiểu biết mà còn trực tiếp trở thành những tuyên truyền viên nòng cốt, góp phần giữ gìn bình yên cho bản làng nơi biên cương.

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ngược núi hỗ trợ dịch vụ công cho đồng bào Cor

Ngược núi hỗ trợ dịch vụ công cho đồng bào Cor

Từng phải vượt hàng chục km đường núi để giải quyết một thủ tục hành chính, người dân ở nhiều thôn vùng cao Quảng Ngãi nay chỉ cần đến điểm hỗ trợ ngay tại địa phương để được hướng dẫn, tiếp nhận và xử lý hồ sơ.

Triển khai nhiều chính sách giáo dục đặc thù, mang niềm vui đến vùng biên giới, hải đảo

Triển khai nhiều chính sách giáo dục đặc thù, mang niềm vui đến vùng biên giới, hải đảo

Những quyết sách nhân văn vượt trội về hỗ trợ sữa uống tại trường, miễn phí sách giáo khoa, tiền ăn trưa bán trú và xe đưa đón đang mang lại niềm vui đến các lớp học biên giới, hải đảo của tỉnh Quảng Ninh. Hệ thống chính sách đặc thù này vừa được phản ánh toàn diện tại Báo cáo số 315/BC-UBND do UBND tỉnh Quảng Ninh chính thức gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đắk Lắk tham vấn lộ trình phát triển kinh tế số

Đắk Lắk tham vấn lộ trình phát triển kinh tế số

Chiều 16/7, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội thảo trao đổi, tham vấn đối với dự thảo Đề án "Phát triển kinh tế số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045", nhằm tiếp tục hoàn thiện trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

Hơn 2.184 tỷ đồng vốn ưu đãi đồng hành cùng phụ nữ phát triển kinh tế

Hơn 2.184 tỷ đồng vốn ưu đãi đồng hành cùng phụ nữ phát triển kinh tế

Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tạo điều kiện hỗ trợ hội viên phụ nữ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi đúng đối tượng giúp nhiều hội viên từng bước thoát nghèo, làm giàu chính đáng, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế bền vững…

Đi tìm những dòng tên còn thiếu trên bia mộ liệt sĩ

Đi tìm những dòng tên còn thiếu trên bia mộ liệt sĩ

Có những người lính đã yên nghỉ nơi đất mẹ nhưng hơn 70 năm qua vẫn chưa thể trở về với chính tên tuổi của mình. Trên những hàng bia trắng ở các nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Điện Biên vẫn còn hàng nghìn phần mộ chỉ khắc dòng chữ "Liệt sĩ chưa xác định danh tính".

Định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh

Định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp và dịch vụ tại Tây Ninh cũng diễn ra khá mạnh mẽ. Với mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và thúc đẩy phát triển bền vững, tỉnh Tây Ninh xác định việc chỉnh trang cảnh quan, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm, từng bước định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh.

Đưa tiện ích số đến với người bệnh

Đưa tiện ích số đến với người bệnh

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", ngành Y tế tỉnh Điện Biên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Chú trọng chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chú trọng chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chiều 13/7, đoàn công tác do ông Lâm Văn Mẫn, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội làm trưởng đoàn đã đến khảo sát và làm việc tại tỉnh Cà Mau về tình hình thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Khảo sát chính sách giáo dục, y tế đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Khảo sát chính sách giáo dục, y tế đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 13/7, đoàn công tác do đồng chí Lâm Văn Mẫn, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội làm trưởng đoàn đã đến khảo sát việc triển khai một số cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục và y tế đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Khánh Lâm (tỉnh Cà Mau). Hoạt động nhằm đánh giá thực tiễn việc đưa các nghị quyết lớn của Quốc hội đi vào cuộc sống tại địa bàn vùng sâu, vùng xa.