Kon Tum gắn trách nhiệm của người dân với rừng từ dịch vụ môi trường rừng

Kon Tum gắn trách nhiệm của người dân với rừng từ dịch vụ môi trường rừng
Nhà Rông làng Đăk Trăm, xã Đăk Trăm, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, được làm mới từ tiền chi trả dịch vụ bảo vệ môi trường rừng. Ảnh: Hồng Điệp – TTXVN
Nhà Rông làng Đăk Trăm, xã Đăk Trăm, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, được làm mới từ tiền chi trả dịch vụ bảo vệ môi trường rừng. Ảnh: Hồng Điệp – TTXVN
Trước đây do tư duy, nhận thức của đồng bào còn hạn chế nên nhiều cánh rừng bị người dân khai thác, lấn chiếm làm nương rẫy. Để bảo vệ rừng, từ năm 2011 chính quyền địa phương đã tiến hành giao khoán rừng cho các cộng đồng thôn, bản và các tổ chức trực tiếp bảo vệ. Năm 2017 là năm thứ 6 chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 22 đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh, 10 đơn vị phải chi trả tiền này về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam để điều phối cho Quỹ của tỉnh Kon Tum và các tỉnh có liên quan. Theo đó, diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng đạt hơn 360.000 ha, chiếm khoảng 60% tổng diện tích rừng của tỉnh. Đi đầu trong các đơn vị triển khai tốt công tác giao khoán quản lý, bảo vệ rừng trong tỉnh Kon Tum là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Tô, với tổng diện tích rừng và đất rừng được giao quản lý gần 37 nghìn ha, trải rộng trên 14 xã thuộc địa bàn 3 huyện: Đăk Tô, Tu Mơ Rông và Sa Thầy. Nhằm huy động sự ủng hộ của đồng bào dân tộc thiểu số tại từng địa phương, Công ty đã đến từng thôn, làng tuyên truyền, vận động người dân tham gia công tác bảo vệ rừng. Thời gian đầu chưa thấy được lợi ích thiết thực của việc quản lý, bảo vệ rừng nên đồng bào còn e dè. Nhưng sau khi thấy các hộ làm tốt công tác nhận khoán, giúp xóa đói giảm nghèo, người dân các thôn, làng sống ven rừng đã chủ động đăng ký tham gia. Nhờ đó, cuộc sống của họ dần ổn định, tinh thần gắn kết cộng đồng được nâng lên rõ rệt. Điển hình trong công tác bảo vệ rừng là thôn Xốp Dùi, xã Xốp (huyện Đăk Glei) là cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ 78,5 ha rừng từ năm 2014. Nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, năm 2017 thôn Xốp Dùi nhận được hơn 23 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, thanh toán của năm 2016 và tạm ứng của năm 2017. Từ nguồn tiền này, các hoạt động tuyên truyền về quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng ở thôn được tổ chức thường xuyên, đầy đủ hơn, kết nối người dân trong thôn với nhau, từ đó nâng cao nhận thức của họ trong việc bảo vệ rừng nơi mình sinh sống. Cũng nhờ nguồn tiền nhận khoán, bảo vệ rừng mà các gia đình ở thôn Măng Rương, xã Văn Lem (huyện Đăk Tô) ngày càng gắn bó với rừng. Nhiều hộ dân ở đây được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng từ năm 2012. Để cải thiện sinh kế, các hộ dân đã dùng tiền này đầu tư trồng cà phê để nâng cao thu nhập. Nhờ đó, các thành viên trong gia đình tự giác thay phiên nhau đi tuần tra, bảo vệ diện tích rừng được giao quản lý. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai thực hiện đã nhận được sự đồng thuận và ủng hộ của chủ rừng là tổ chức nhà nước, cũng như các hộ gia đình, cá nhận, cộng đồng dân cư thôn. Bởi chính sách này đã tác động tích cực đến ý thức, vai trò trách nhiệm của chủ rừng và người dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đời sống của người làm nghề rừng được cải thiện qua từng năm, góp phần huy động đông đảo người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã thu được hơn 728 tỷ đồng, tiến hành giải ngân hơn 627 tỷ đồng cho các chủ rừng, tổ chức, cá nhân liên quan. Trong đó có 20 đơn vị chủ rừng; 72 UBND xã, thị trấn; 3.642 hộ gia đình, 22 cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất, giao rừng. Ngoài ra, các đơn vị là chủ rừng còn khoán cho 5.056 hộ gia đình, 64 cộng đồng dân cư thôn và 29 nhóm hộ bảo vệ 140.289,25 ha rừng. Việc giao khoán rừng cho cộng đồng thôn, làng, tổ chức… bảo vệ đã góp phần quản lý hiệu quả diện tích rừng hiện có, hạn chế tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm nương rẫy và các vi phạm khác về rừng. Có thể thấy, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai đã mang lại những kết quả tích cực, tạo nguồn lực tài chính bền vững để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Tuy vậy, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục, như tình trạng chây ì, trì hoãn không kê khai, chậm nộp tiền của một số đơn vị sử dụng dịch vụ (chủ yếu là các nhà máy thủy điện nhỏ). Việc quản lý, sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng còn lúng túng. Chẳng hạn như chủ rừng chưa kịp thời chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng… Để triển khai hiệu quả hơn nữa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn trong thời gian tới, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum cần tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện hiệu quả chính sách trên địa bàn tỉnh, bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân, cộng động dân cư thôn về tầm quan trọng của tài nguyên rừng và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đồng thời, các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng cần chấp hành, thực hiện đầy đủ trong việc thực thi chính sách chi trả; tăng cường công tác giao đất, rừng cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, giảm dần diện tích do UBND xã, thị trấn trực tiếp quản lý; lồng ghép thực hiện chính sách dịch vụ môi trường rừng gắn với kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; khuyến khích các đơn vị, doanh nghiệp và cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, cũng như tăng cường giám sát việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho người dân.
Đình Lân 

Có thể bạn quan tâm

Đồng hành, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em nơi biên cương

Đồng hành, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em nơi biên cương

Những năm gần đây, giáo dục tại khu vực biên giới đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vùng biên giới vẫn còn không ít khó khăn, đời sống của nhiều hộ dân vẫn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, thu nhập thiếu ổn định; không ít học sinh cần được hỗ trợ...

Giữ niềm tin, vun đắp sinh kế cho đồng bào Khmer

Giữ niềm tin, vun đắp sinh kế cho đồng bào Khmer

Gần dân, hiểu hoàn cảnh từng hộ và gương mẫu trong việc chung là cách người có uy tín tạo dựng niềm tin trong đồng bào Khmer. Từ sự tin tưởng ấy, việc vận động bà con phát triển sản xuất, chăm lo học hành và gìn giữ văn hóa dân tộc có thêm nền tảng để thực hiện.

Đồng hành để nguồn vốn chính sách phát huy hiệu quả

Đồng hành để nguồn vốn chính sách phát huy hiệu quả

Nguồn vốn chính sách không chỉ giúp người dân đầu tư sản xuất mà còn đi kèm hướng dẫn, kiểm tra để vốn được sử dụng đúng mục đích, phát huy hiệu quả. Tại bản Ten Lúa, xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên, 90 hội viên nông dân đang vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội, với tổng dư nợ trên 6,8 tỷ đồng. Gia đình ông Lường Văn Hóa cũng sử dụng nguồn vốn này để mua trâu sinh sản, từng bước mở rộng đàn, tăng thu nhập.

Hỗ trợ hơn 537 tấn gạo cho học sinh vùng khó khăn, biên giới

Hỗ trợ hơn 537 tấn gạo cho học sinh vùng khó khăn, biên giới

Thực hiện Quyết định số 3846/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Trị về việc phân bổ gạo hỗ trợ học sinh học kỳ I năm học 2026-2027 theo chính sách của Chính phủ, 12.427 học sinh thuộc diện được hưởng chính sách tại các địa bàn khó khăn được hỗ trợ hơn 537 tấn gạo.

Nguồn vốn chính sách tiếp sức người dân vùng cao vươn lên

Nguồn vốn chính sách tiếp sức người dân vùng cao vươn lên

Từ những khoản vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội, nhiều hộ dân ở khu vực vùng cao tỉnh Cao Bằng có thêm nguồn lực đầu tư sản xuất, phát triển chăn nuôi, trồng cây ăn quả, mở rộng dịch vụ, chủ động vươn lên, giảm nghèo và xây dựng cuộc sống ổn định.

Đưa dòng vốn chính sách đến đúng địa chỉ

Đưa dòng vốn chính sách đến đúng địa chỉ

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra với tỉnh Phú Thọ không chỉ là huy động đủ nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực ấy đến đúng nơi, đúng đối tượng, đúng nhu cầu.

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.