Yên Bái tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Yên Bái tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
Cô giáo Trường Mầm non xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn (Yên Bái) sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt kết hợp với văn hóa dân tộc, nghe kể chuyện dân gian, đọc thơ, ca dao cho trẻ. Ảnh: Đức Tưởng - TTXVN
Cô giáo Trường Mầm non xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn (Yên Bái) sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt kết hợp với văn hóa dân tộc, nghe kể chuyện dân gian, đọc thơ, ca dao cho trẻ. Ảnh: Đức Tưởng - TTXVN
Trường Mầm non xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn có 26 giáo viên phụ trách 322 trẻ (trong đó có 320 trẻ là người Mông), hầu hết các trẻ đều chưa nói sõi tiếng Việt. Cô giáo Nguyễn Thị Thương, Hiệu trưởng Trường Mầm non xã Suối Giàng cho biết, để học sinh có thể nói được tiếng Việt ngay từ nhỏ, nhà trường thường xuyên lồng ghép, tổ chức hoạt động sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt kết hợp với văn hóa dân tộc, nghe kể chuyện dân gian, đọc thơ, ca dao. Đặc biệt, nhà trường còn tổ chức hội thi, ngày hội đọc sách, tổ chức hoạt động vui chơi gắn với tiếng Việt, trong đó tập trung vào việc luyện phát âm ngọng cho trẻ... Cùng với đó, nhà trường chỉ đạo giáo viên viết bằng chữ in thường lên các khu vui chơi của trẻ, đồ dùng, đồ chơi ngoài trời, cây xanh, cây hoa để trẻ có thể luyện phát âm; khuyến khích trẻ giao tiếp với cô giáo và các bạn bằng tiếng Việt. Trong quá trình dạy - học và tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo viên rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, mở rộng vốn từ tiếng Việt, sửa lỗi phát âm, dùng từ, đặt câu cho trẻ. Nhờ vậy, hàng năm, nhà trường đều huy động tối đa trẻ 5 tuổi ra lớp và hoàn thành chương trình giáo dục mầm non. Trẻ đã nhận biết, phát âm tương đối đúng theo bộ chữ cái tiếng Việt, có kỹ năng cơ bản khi vào lớp 1. Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Nậm Lành, huyện Văn Chấn có 441 học sinh, trong đó 438 học sinh dân tộc thiểu số. Vì vậy, nhà trường đã triển khai nhiều biện pháp để tăng cường tiếng Việt cho các em, tạo thuận lợi cho việc giảng dạy, tiếp thu của giáo viên, học sinh. Đặc biệt, từ khi dự án nâng cao khả năng tiếp cận tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số (thuộc tổ chức KOICA, Hàn Quốc) được triển khai tại trường, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh thuận lợi hơn. Theo dự án, đối với lớp 1, 2, mỗi lớp sẽ có thêm một trợ giảng, trợ giảng là người tại địa phương và được hỗ trợ gần hai triệu đồng/tháng. Mỗi trợ giảng có vai trò là cầu nối, người truyền tải thông tin giữa giáo viên và học sinh. Trợ giảng Lò Thị Oanh chia sẻ, khi được đứng trên lớp cùng giáo viên và học sinh, cô thấy giữa học sinh - giáo viên có khoảng cách lớn bởi không cùng tiếng nói chung. Giáo viên khó khăn trong việc truyền tải tri thức cho các em, còn học sinh muốn học nhưng không hiểu thầy cô đang nói gì. Từ khi cô làm trợ giảng, việc học tập của học sinh cũng thuận lợi hơn. Cô giáo Trần Thị Thu Hằng cho biết, trước đây, khi chưa có trợ giảng, mỗi tiết học sẽ kéo dài hơn bởi nhiều câu hỏi các em giáo viên không hiểu. Nhờ có trợ giảng mà hoạt động dạy và học mang lại hiệu quả cao, các em đã tự tin hơn trong giao tiếp. Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Nậm Lành, huyện Văn Chấn Trịnh Văn Toán cho biết, do các em chủ yếu là người dân tộc thiểu số nên khó khăn lớn nhất của học sinh khi đến trường là khả năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, học tập. Từ khi tỉnh triển khai đề án tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và dự án nâng cao khả năng tiếp cận tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường với nhiều hỗ trợ và hoạt động thực tế đã giúp các em tự tin giao tiếp. Ông Lê Quang Minh, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Văn Chấn cho biết, trên địa bàn huyện có nhiều xã ở vùng sâu, vùng xa, chủ yếu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Để các em có thể nói thành thạo tiếng Việt ngay từ nhỏ, phòng đã chỉ đạo các trường xây dựng mô hình thư viện tại trường; tổ chức ngày hội đọc sách, hội thi giao lưu tiếng Việt giúp học sinh dân tộc thiểu số tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Đến nay, 100% trẻ em dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện được tăng cường tiếng Việt; hơn 90% trẻ trên 5 tuổi có thể nghe, hiểu và trả lời bằng tiếng Việt. Bên cạnh đó, Phòng luôn cụ thể hóa đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” của tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ năm học của các cấp học, với nhiều hoạt động đa dạng, phong phú. Ngoài ra, nhiều chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dân tộc thiểu số trong quá trình học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương. Thời gian tới, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Văn Chấn chỉ đạo các trường học tiếp tục duy trì mô hình thư viện tại trường, ngày hội đọc sách và hội thi giao lưu tiếng Việt; khuyến khích các thầy cô giáo đề xuất ý tưởng, cách làm mới về tăng cường tiếng Việt cho học sinh; tăng cường thời gian luyện nói cho học sinh trong các giờ học chính khóa, sinh hoạt đội, sao nhi đồng. Các trường lồng ghép hoạt động vui chơi gắn với học tiếng Việt cho học sinh để các em thành thạo tiếng Việt, tự tin tham gia hoạt động chung của trường…

Đinh Thùy

Có thể bạn quan tâm

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.

Tại nhiều vùng cao, tầm vóc thấp bé và chứng còi xương ở trẻ em vẫn rất phổ biến. Ảnh: V.T

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống-Bài 2: Thể trạng con người còi xương, hệ lụy khôn lường về di truyền

Hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn là căn nguyên khiến thể trạng con người và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc hạn chế, gen di truyền từ cha mẹ sang con khiến những trẻ em sinh ra thường mắc các bệnh còi xương, thấp bé... và vòng xoáy nghèo đói tiềm ẩn nơi non cao.

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống- Bài 1: Hôn nhân cận huyết thống và những chuyện buồn về ‘bà mẹ trẻ’ nơi rẻo cao

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống- Bài 1: Hôn nhân cận huyết thống và những chuyện buồn về ‘bà mẹ trẻ’ nơi rẻo cao

Mặc dù tỷ lệ kết hôn cận huyết thống không ồ ạt như nạn tảo hôn, nhưng hệ lụy để lại cho thể trạng con người và chất lượng dân số rất bất lợi. Hôn nhân cận huyết từ lâu đã trở thành "vết cứa" bào mòn tầm vóc, trí tuệ và sự phát triển giống nòi nơi rẻo cao.