Bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu tình hình mới

Là địa phương có trên 60% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, Lào Cai xác định đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nâng cao hiệu quả công tác quản lý, vận động nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Xây nguồn lực bám cơ sở

boi-duong-can-bo-lao-cai.jpg
Cán bộ xã Việt Hồng (Lào Cai) đến từng hộ dân tuyên truyền và lấy ý kiến nhân dân về chủ trương sáp nhập thôn. Ảnh minh họa: Anh Thùy/TTXVN

Lào Cai đặc biệt chú trọng quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển cả về số lượng và chất lượng, bố trí và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở, tạo cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc.

Anh Hoàng Trường Minh (dân tộc Mông), Bí thư Đảng ủy xã Sín Chéng, sinh ra tại xã La Pan Tẩn, huyện Mường Khương (cũ) - một địa bàn vùng cao còn nhiều khó khăn của Lào Cai. Là đồng bào dân tộc thiểu số, anh Minh đã được tỉnh tạo điều kiện học tập, rèn luyện, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn.

Trước khi đảm nhiệm cương vị hiện nay, anh Minh từng là Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Khương. Trong quá trình triển khai chính quyền địa phương hai cấp, từ tháng 7/2025, anh được điều động về xã Cao Sơn làm Bí thư Đảng ủy. Anh cho biết, năm 1994, anh được tuyển dụng cử tuyển vào Trường Văn hóa Công an Nhân dân I - Bộ Công an tại Thái Nguyên. Đến năm 2001, anh tốt nghiệp lớp 12 và tham gia học tập tại Học Viện An ninh nhân dân. Năm 2006, sau khi tốt nghiệp Đại học, anh về nhận công tác tại Đội Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương và kinh qua nhiều vị trí quan trọng. Năm 2011, được Ban Thường vụ Huyện ủy Mường Khương cử đi đào tạo cao cấp lý luận chính trị; năm 2017, được cử đi đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Luật học.

Trong thời gian công tác, anh đã được Đảng bộ chính quyền quan tâm tạo điều kiện tham gia các lớp tập huấn, đào tạo ngắn ngày để hoàn thiện các chứng chỉ theo quy định để nâng cao trình độ để phục vụ tốt nhất quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Hành trình của anh Hoàng Trường Minh không chỉ thể hiện nỗ lực cá nhân, mà còn phản ánh rõ nét một định hướng nhất quán của tỉnh Lào Cai: phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ngay từ cơ sở.

Anh Hoàng Trường Minh nêu rõ, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai, yêu cầu đối với cán bộ ngày càng cao, từ trình độ chuyên môn đến kỹ năng quản lý, khả năng ứng dụng công nghệ. Điều này đặt ra thách thức không nhỏ đối với cán bộ dân tộc thiểu số.

Thực tế tại xã Sín Chéng sau sáp nhập, chất lượng đội ngũ cán bộ đã có bước chuyển biến rõ rệt. Bộ máy Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hiện có 90 cán bộ, công chức, trong đó trên 80% là cán bộ dân tộc thiểu số; 100% cán bộ người dân tộc thiểu số có trình độ đại học, trên đại học và trung cấp lý luận chính trị trở lên. Đây là điều kiện quan trọng để địa phương vận hành hiệu quả mô hình chính quyền hai cấp - mô hình đòi hỏi đội ngũ cán bộ không chỉ vững chuyên môn, mà còn am hiểu địa bàn, có khả năng gần dân, sát dân và giải quyết công việc linh hoạt.

Anh Lý Việt Hùng (dân tộc Mông), Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Dền Sáng từng là Trưởng Phòng Dân tộc và Tôn giáo huyện Bát Xát (cũ), sau đó được điều động về cơ sở giữ chức Bí thư Đảng ủy xã Nậm Pung rồi xã Dền Thàng. Từ tháng 7/2025, anh được phân công giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Dền Sáng. Nơi đây là xã vùng III của tỉnh Lào Cai, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 99% dân số. Để phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống cho người dân, những năm gần đây, chính quyền xã đẩy mạnh kiện toàn hạ tầng giao thông; xóa nhà tạm; hỗ trợ sản xuất theo hướng tập trung phát triển vùng chè, dược liệu và khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Với lợi thế hiểu phong tục, tập quán, ngôn ngữ và đời sống của đồng bào, những cán bộ như anh Hùng không chỉ là người tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách mà còn là cầu nối quan trọng giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; thường xuyên bám địa bàn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân và kịp thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh.

Hiện tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số là lãnh đạo, quản lý cấp sở tại Lào Cai chiếm 15,3%; cán bộ có trình độ khoa học-công nghệ tham gia cấp ủy cấp xã chiếm 4,7%; lãnh đạo quản lý cấp sở chiếm 7,4%. Cán bộ dân tộc thiểu số quy hoạch lãnh đạo các sở, ngành chiếm 14,7%; quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh chiếm 1,4%; quy hoạch lãnh đạo sở, ngành chiếm 5,2%...

Có thể nói, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đang là lực lượng nòng cốt góp phần triển khai hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Lào Cai.

Cơ cấu phù hợp đi đôi với sử dụng hiệu quả

Tháng 9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên thăm đồng bào và cán bộ, chiến sĩ ở vùng đất miền núi, biên giới, nhiều dân tộc thiểu số ở Lào Cai và căn dặn: “Ra sức bồi dưỡng, giáo dục và cất nhắc cán bộ địa phương, cán bộ dân tộc”. Lời dạy của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt trong bối cảnh các địa phương vùng cao đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu ngày càng cao về năng lực quản trị và tổ chức thực hiện.

Thực hiện Đề án “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035”, Lào Cai gắn mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số với mục tiêu giảm nghèo đa chiều bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ tại cơ sở. Địa phương phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số đạt tối thiểu 17% tổng số biên chế được giao; đến năm 2035, đạt tối thiểu 20%; 38% đến năm 2030 và 39,5% đến năm 2035.

Nhằm bảo đảm cơ cấu hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp, Lào Cai đặt mục tiêu đến năm 2030, đạt tối thiểu 10% lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số trong tổng số lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh; đến năm 2035, tỷ lệ này đạt tối thiểu 12%. Đến năm 2030, đạt tối thiểu là 41,5% lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số trong tổng số lãnh đạo, quản lý cấp xã; đến năm 2035, tỷ lệ này đạt tối thiểu 43%.

Đến năm 2030, tối thiểu 17% cán bộ, công chức, viên chức có trình độ sau đại học là người dân tộc thiểu số; 20% vào năm 2035. Tại cấp xã, đến năm 2030, tối thiểu 30% cán bộ người dân tộc thiểu số có trình độ sau đại học; tỷ lệ này đạt tối thiểu 35% vào năm 2035...

Để đạt mục tiêu trên, Lào Cai xác định bố trí, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. Trên cơ sở kết quả rà soát hiện trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ người dân tộc thiểu số, tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số của tỉnh, từng địa bàn cấp xã, các cơ quan, đơn vị, địa phương xác định chỉ tiêu bố trí biên chế, vị trí việc làm, cơ cấu cán bộ người dân tộc thiểu số theo nguyên tắc bảo đảm tương ứng với tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong tổng dân số, phù hợp với cơ cấu thành phần dân tộc thiểu số tại địa phương, yêu cầu nhiệm vụ, tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và biên chế được giao./.

Hương Thu/TTXVN
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.