Đắk Nông vài nét tổng quan

Đắk Nông vài nét tổng quan
1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn; được xác định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045' đến 12050' vĩ độ Bắc, 107013' đến 108010' kinh độ Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia. Đăk Nông là tỉnh nằm trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia.

Đắk Nông có Quốc lộ 14 nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ với các tỉnh Tây nguyên, cách Thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phía Bắc và cách Thành phố Ban Mê Thuột (Đắk Lắk) 120 km về phía Tây Nam; có Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Duyên hải miền Trung, cách Thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) 180 km và Thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) 230 km về phía Đông. Đắk Nông có 130 km đường biên giới với nước bạn Campuchia, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Dak Peur nối thông với Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap,..

Địa hình
        
Tỉnh Đắk Nông có diện tích tự nhiên là 6.514,38 km2. Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M'Nông, độ cao trung bình khoảng 600 m đến 700m so với mặt nước biển, có nơi lên đến 1.982m (Tà Đùng).

Nhìn tổng thể, địa hình Đắk Nông như hai mái của một ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nam Nung, chạy dài từ Đông sang Tây, có độ cao trung bình khoảng 800m, có nơi cao đến hơn 1.500m. Địa hình có hướng thấp dần từ Đông sang Tây. Các huyện Đăk Song, Đăk Mil, Cư Jut, Krông Nô thuộc lưu vực sông Krông Nô, sông Srêpốk nên thấp dần từ Nam xuống Bắc. Các huyện Tuy Đức, Đăk Rlâp, Đăk Glong và thị xã Gia Nghĩa thuộc thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai nên thấp dần từ Bắc xuống Nam.

Vì vậy, Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lư­ợn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng. Địa hình thung lũng thấp, có độ dốc từ 0-30 chủ yếu phân bố dọc sông Krông Nô, Sêrêpôk, thuộc các huyện Cư Jút, Krông Nô. Địa hình cao nguyên đất đỏ bazan chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song, độ cao trung bình 600 - 800 m, độ dốc khoảng 5-100. Địa hình chia  cắt mạnh và có độ dốc lớn > 150 phân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện Đăk Glong, Đắk R'Lấp.

Khí hậu
      
Đắk Nông là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể.

Nhiệt độ trung bình năm 22-230 C, nhiệt độ cao nhất 350 C, tháng nóng nhất là tháng 4. Nhiệt độ thấp nhất 140C, tháng lạnh nhất vào tháng 12. Tổng số giờ nắng trong năm trung bình 2000-2300 giờ. Tổng tích ôn cao 8.0000 rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm.

Lượng mưa trung bình năm 2.513 mm, lượng mưa cao nhất 3.000mm. Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào tháng 1, 2. Độ ẩm không khí trung bình 84%. Độ bốc hơi mùa khô 14,6-15,7 mm/ngày, mùa mưa 1,5-1,7 mm/ngày.

Hướng gió thịnh hành mùa mưa là Tây Nam, hướng gió thịnh hành mùa khô là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4 -5,4 m/s , hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên cũng như các vùng khác của Tây Nguyên, điều bất lợi cơ bản về khí hậu là sự mất cân đối về lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, nên yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt là việc cấp nước, giữ nước và việc bố trí mùa vụ cây trồng.

Thủy văn
     
Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện và phục vụ nhu cầu dân sinh.
   
Các sông chính chảy qua địa phận tỉnh gồm:

Sông Sêrêpôk do hai nhánh sông Krông Nô và Krông Na hợp lưu với nhau tại thác Buôn Dray. Khi chảy qua địa phận huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, do kiến tạo địa chất phức tạp, lòng sông trở nên hẹp và dốc nên tạo ra các thác nước lớn hùng vĩ, vừa có cảnh quan thiên nhiên đẹp, vừa có tiềm năng thủy điện mang lại giá trị kinh tế. Đó là thác Trinh Nữ, Dray H'Linh, Gia Long, ĐraySap. Các suối Đắk Gang, Đắk Nir, Dray H'Linh, Ea Tuor, Đắk Ken, Đắk Klou, Đắk Sor cũng đều là thượng nguồn của sông Sêrêpôk.

Sông Krông Nô bắt nguồn từ dãy núi cao trên 2.000 m phía Đông Nam tỉnh Đắk Lắk, chảy qua huyện Krông Nô. Sông Krông Nô có ý nghĩa rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống dân cư trong tỉnh. Còn nhiều suối lớn nhỏ khác suối Đắk Mâm, Đắk Rô, Đắk Rí, Đắk Nang là thượng nguồn của sông Krông Nô.

Hệ thống sông suối thượng nguồn sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai dòng chảy chính không chảy qua địa phận Đắk Nông nhưng có nhiều sông suối thượng nguồn. Đáng kể nhất là: Suối Đắk Rung bắt nguồn từ khu vực Thuận Hạnh, Đắk Nông với chiều dài 90 km. Suối Đắk Nông có lưu lượng trung bình 12,44m3/s. Môduyn dòng chảy trung bình 47,9 m3/skm2.Suối Đắk Bukso là ranh giới giữa huyện Đắk Song và Đắk R'Lấp. Suối ĐắkR'Lấp có diện tích lưu vực 55,2 km2, là hệ thống suối đầu nguồn của thủy điện Thác Mơ. Suối Đắk R'Tih chảy về sông Đồng Nai, đầu nguồn của thủy điện Đắk R'tih và thủy điện Trị An.

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, đập lớn vừa có tác dụng giữ nước cho sản xuất nông, công nghiệp, thủy điện, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch như Hồ Tây, EaSnô, Ea T'Linh, Đắk Rông, Đak Đier, ĐăkR'tih, Đồng Nai 3, 4...

Chế độ lũ: Chịu sự chi phối mạnh của sông Krông Nô. Tại Đức Xuyên lũ lớn thường xảy ra vào tháng 9, 10. Hàng năm dòng sông này thường gây ngập lũ ở một số vùng thuộc các xã phía nam huyện Krông Nô. Lũ trên sông Sêrêpôk là tổ hợp lũ của 2 sông Krông Nô và Krông Na, lũ xuất hiện vào tháng 9 và 10.

Đất đai

Đắk Nông có tổng diện tích đất tự nhiên là 650.927 ha.

Về thổ nhưỡng: Đất đai Đắk Nông khá phong phú và đa dạng, nhưng chủ yếu gồm 05 nhóm chính: Nhóm đất xám trên nền đá macma axit và đá cát chiếm khoảng 40% diện tích và được phân bổ đều toàn tỉnh. Đất đỏ bazan trên nền đá bazan phong hóa chiếm khoảng 35% diện tích, có tầng dày bình quân 120 cm, phân bổ chủ yếu ở Đăk Mil, Đăk Song. Còn lại là đất đen bồi tụ trên nền đá bazan, đất Gley và đất phù sa bồi tụ dọc các dòng sông, suối.

Với tài nguyên đất đai nêu trên, Đắk Nông rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như: Cà phê, cao su, chè, tiêu, điều trên nền đất xám, đất đỏ bazan. Đồng thời rất thích hợp cho phát triển một diện tích lớn cây hàng năm như lúa, ngô và các loại cây công nghiệp ngắn ngày khác trên đất đen bồi tụ, đất Gley và đất phù sa ven sông, suối.
     
2. Dân cư
      
Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 636.000 người. Dân cư phân bố không đều trên địa bàn các huyện, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ. Có những vùng dân cư thưa thớt như một số xã của huyện Đắk Glong, Tuy Đức.

Đắk Nông là tỉnh có cộng đồng dân cư gồm hơn 40 dân tộc cùng sinh sống. Cơ cấu dân tộc đa dạng chủ yếu là dân tộc Kinh,  M'Nông, Tày, Thái, E Đê, Nùng. Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,5%; M'Nông chiếm 9,7%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ nhỏ.

Đắk Nông là vùng đất sinh sống từ hàng ngàn đời của đồng bào các dân tộc tại chỗ, đồng thời cũng là vùng đất quần tụ của cư dân từ nhiều vùng miền về sinh cơ, lập nghiệp nên đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng cũng vô cùng phong phú. Gồm có Công giáo, Phật giáo, Tin lành.

Ngoài ra, đồng bào các dân tộc Đăk Nông còn có rất nhiều tín ngưỡng để tôn thờ, đặc biệt là đồng bào các dân tộc tại chỗ thờ cúng Yàng (Trời), thần Núi, thần Sông v.v. và rất nhiều lễ hội như: Lễ hội Đâm trâu (ăn trâu). Lễ mừng nhà mới, Lễ mừng mùa, Lễ bỏ mả,... phong phú và đặc sắc.

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Đắk Nông là vùng đất cổ, nằm trên cao nguyên M’Nông, phía Tây Nam vùng Tây nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn, có độ cao trung bình từ 600 - 700m, có nơi lên đến 1.970m so với mực n­ước biển. Là nơi sinh sống lâu đời của các dân tộc bản địa như M’Nông, Mạ, Ê đê …, theo chế độ cộng đồng, thị tộc, bộ lạc, trải dài trên một địa bàn rộng lớn.

Do vị trí địa lý, vùng đất Đăk Nông nói riêng, vùng đất Tây Nguyên nói chung, nằm ở ngã ba của các quốc gia Đông Dương, luôn chịu sự tranh chấp của nhiều thế lực bên ngoài với các tộc người bản địa hoặc giữa các thế lực xâm lược với nhau. Vì vậy, vùng đất này luôn chịu sự xáo trộn về ranh giới địa lý hành chính.

Từ năm 1893, triều đình nhà Nguyễn buộc phải chấp nhận để Pháp toàn quyền cai trị vùng cao nguyên Trung phần, Đăk Nông trở thành vùng đất thuộc quyền cai trị trực tiếp của thực dân Pháp.

Không chịu khuất phục dưới ách thống trị của thực dân, các dân tộc Tây Nguyên nói chung, Đắk Nông nói riêng đã vùng lên, chống thực dân xâm lược mà điển hình là các cuộc khởi nghĩa của N'Trang Gưh (1845-1914, tù trưởng buôn Cuah Kplang), từ năm 1887 đến năm 1914, ông từng lãnh đạo nghĩa quân bao vây tiêu diệt đồn Buôn Tur, buôn Riăng, buôn Dur, buôn Tinh, đồn Phơty…; cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng (1870 - 1935, là người dân tộc M'Nông), Ông đã đứng lên lãnh đạo các dân tộc M' Nông, Stiêng, Mạ… vũ trang chống Pháp từ cuối năm 1911, cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp vùng cao nguyên M'Nông và được nhiều tù trưởng tài giỏi khác như R'Dinh, R'Ong (tù trưởng của các buôn Bu Jeng Chet, Bu Mera, Bu Nơr, Bu Nốp... thuộc tổng DakRtik, nay là tỉnh Đắk Nông) tham gia. Giữa tháng 5 năm 1935, quân Pháp tập trung tiến công đại bản doanh của nghĩa quân. Tù trưởng N'Trang Lơng bị trọng thương và tử thương đêm 23 tháng 5 năm 1935.

Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định khu vực Tây Nguyên, thực dân Pháp đã từng bước thiết lập hệ thống chính quyền tay sai thực dân trên địa bàn Đăk Nông để kiểm soát dân chúng, tập trung ở Đăk Mil, Đăk Song. Năm 1940, bên cạnh nhà tù Buôn Ma Thuột, chúng còn cho xây dựng Ngục Đăk Mil (nay thuộc huyện Đăk Mil, Đắk Nông), nhằm đày ải và tra tấn các chiến sĩ cách mạng của ta. Ngục Đăk Mil trở thành một cơ sở cách mạng trên địa bàn huyện và đã chứng kiến nhiều lần vượt ngục dũng cảm của những người Cộng sản yêu nước.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Đắk Nông là vùng địch tạm chiếm đóng. Đồng bào dân tộc M'Nông, Mạ… với truyền thống kiên cường, anh dũng trong đấu tranh chống ngoại xâm đã được sớm giác ngộ và đi theo cách mạng. Năm 1950, tỉnh Đắk Lắk cử Đội công tác 124 về tiến hành xây dựng cơ sở ở xung quanh núi Nâm Nung.

Những năm 1954 - 1959, trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhiều thanh niên M'Nông, Mạ… đã giác ngộ cách mạng, thoát ly và được đưa vào vùng hậu cứ đào tạo để sau này phục vụ địa phương. Ban Cán sự Đảng kết hợp với đội công tác tuyên truyền, vận động thành lập được trung đội du kích người dân tộc M'Nông để chiến đấu chống Pháp. Đây là những lực lượng tiền thân của lực lượng quân sự tỉnh sau này.

Từ năm 1959, khu vực Nâm Nung trở thành khu căn cứ của lực lượng cách mạng. Tại căn cứ này, chính quyền cách mạng đã xây dựng được 3 trung đội du kích, gồm 150 thanh niên M'Nông, đã huy động được hàng chục ngàn ngày công phục vụ chiến đấu, vận động nhân dân đóng góp hàng ngàn tấn lương thực, hàng trăm tấn thực phẩm cho cách mạng và xây dựng hàng ngàn hầm chông, cạm bẫy, rào hàng chục cây số để chiến đấu bảo vệ hậu cứ, bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo tỉnh, huyện và các trạm hành lang.

Tháng 1.1959, chính quyền Sài Gòn cắt một phần phía Tây của tỉnh Đắk Lắk, một phần quận Kiến Hòa của Thủ Dầu Một để thành lập tỉnh Quảng Đức. Địa giới hành chính tỉnh Quảng Đức, về cơ bản giống như địa giới tỉnh Đắk Nông ngày nay, được chia làm 3 quận: Quận Đức Lập, quận Kiến Đức, quận Khiêm Đức và khu hành chính Đức Xuyên. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược và điều kiện chiến tranh, tháng 12 năm 1960, Trung ương đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức dựa trên sự phân chia địa giới của địch (lấy mật danh là B4), thuộc Liên tỉnh IV, do Liên khu V trực tiếp chỉ đạo; giữa năm 1961, tỉnh Quảng Đức do khu VI trực tiếp chỉ đạo.

Đầu năm 1962, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của Cách mạng, Trung ương quyết định giải thể tỉnh Quảng Đức, chuyển Đức Lập, Đức Xuyên nhập về tỉnh Đắk Lắk, Kiến Đức nhập về tỉnh Phước Long, Khiêm Đức nhập về tỉnh Lâm Đồng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 5/1975, thực hiện chủ trương của Trung ương, tỉnh Quảng Đức được thành lập lại, Chính quyền Cách mạng đã nhanh chóng chỉ đạo các cấp, các ngành ổn định tổ chức, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước phát triển kinh tế-xã hội. Tháng 11/1975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk.

Từ ngày 01/01/2004, tỉnh Đắk Nông được tái lập theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk.
Theo daknong.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Chiều 10/10, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Quảng Trị cho biết, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở nhiều tuyến giao thông, chia cắt một số bản làng tại các xã miền núi, đồng thời gây thiệt hại về sản xuất nông nghiệp và công trình thủy lợi. Đặc biệt, một phụ nữ ở xã Dân Hóa bị nước lũ cuốn trôi, hiện các lực lượng chức năng đang khẩn trương tổ chức tìm kiếm.

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Ngày 10/10, mưa lớn kéo dài khiến tình hình lũ trên các sông ở tỉnh Quảng Trị tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều ngầm tràn, tuyến đường bị ngập sâu, ảnh hưởng đến giao thông và đời sống người dân. Trước nguy cơ mất an toàn do mưa lũ, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đang tăng cường kiểm tra, cảnh báo, triển khai các biện pháp ứng phó nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Ngày 9/10, tại bản Eo Bù - Chút Mút, xã Kim Ngân, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức chương trình “Thời sự về bản” quý III/2026, kết hợp tuyên truyền, chăm lo đời sống và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân địa phương.

Luyện đua ghe ngo mini mừng lễ Sen Đôn-ta

Luyện đua ghe ngo mini mừng lễ Sen Đôn-ta

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón lễ Sen Đôn-ta của đồng bào Khmer tại xã Hồ Thị Kỷ (tỉnh Cà Mau) càng thêm rộn ràng. Cùng với việc sửa sang nhà cửa, người dân còn háo hức tập luyện cho giải đua ghe ngo mini - nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer.

Lâm Đồng: Sạt lở kéo dài, 28 hộ dân thấp thỏm lo âu

Lâm Đồng: Sạt lở kéo dài, 28 hộ dân thấp thỏm lo âu

Gần 1 năm sau khi xảy ra sạt lở tại khu dân cư ven Quốc lộ 27 (đoạn thuộc thôn Lạc Xuân, xã D’ran, Lâm Đồng), hàng chục hộ dân vẫn thấp thỏm lo âu khi hiện tượng sạt trượt đất đá từ quả đồi cao hàng chục mét vẫn tiếp diễn, nhất là sau những trận mưa vừa qua.

Tiếp thêm động lực cho đồng bào Khmer nỗ lực vươn lên

Tiếp thêm động lực cho đồng bào Khmer nỗ lực vươn lên

Nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, các đoàn công tác của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau đã đến thăm, chúc mừng các vị chức sắc, sư sãi, người có uy tín và đồng bào tại nhiều địa phương trong tỉnh.

Khẩn trương khống chế dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò

Khẩn trương khống chế dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò

Trước diễn biến dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò, tỉnh Tuyên Quang yêu cầu các địa phương nhanh chóng thực hiện các biện pháp phòng, chống, nhất là bố trí kinh phí mua vaccine phòng bệnh, tổ chức tiêm phòng cho đàn trâu, bò, bảo đảm tỷ lệ đạt hơn 80% tổng đàn theo quy định.

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Để đồng bào Chăm Islam dễ hiểu và thực hiện đúng pháp luật, Ban Quản trị thánh đường tại phường Bình Tiên, TP Hồ Chí Minh lồng ghép những tình huống đời thường vào các buổi sinh hoạt tôn giáo. Qua cách trao đổi gần gũi, bà con biết nhận diện lừa đảo và phòng tránh vi phạm.

Động lực thay đổi diện mạo nông thôn

Động lực thay đổi diện mạo nông thôn

Tại Tuyên Quang, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có vai trò quan trọng và là động lực cốt lõi để thay đổi diện mạo nông thôn.

Mở rộng nhịp cầu giao thương Việt - Trung

Mở rộng nhịp cầu giao thương Việt - Trung

Từ những sản phẩm chè Shan tuyết, dược liệu, nông sản chế biến đến các sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) mang đặc trưng miền núi, nhiều hàng hóa thế mạnh của Tuyên Quang đang đứng trước cơ hội tiếp cận rộng hơn với thị trường Trung Quốc.

Lâm Đồng: Huy động lực lượng bảo vệ hơn 1,1 triệu ha rừng

Lâm Đồng: Huy động lực lượng bảo vệ hơn 1,1 triệu ha rừng

Ngày 8/10, ông Lê Thanh Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng cho biết đã chỉ đạo các đơn vị liên quan triển khai Quy chế phối hợp huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh và chủ động tăng cường công tác bảo vệ rừng.

Mưa lớn gây ngập, chia cắt nhiều khu dân cư ở Quảng Ngãi

Mưa lớn gây ngập, chia cắt nhiều khu dân cư ở Quảng Ngãi

Mưa lớn kéo dài khiến nhiều tuyến đường dẫn vào khu dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ngập sâu, giao thông gián đoạn, một số nơi chia cắt cục bộ. Trước tình hình trên, các địa phương đang huy động lực lượng, phương tiện khơi thông dòng chảy, kiểm soát giao thông và hỗ trợ người dân chủ động ứng phó.

Củng cố 'thế trận lòng dân' nơi biên cương

Củng cố 'thế trận lòng dân' nơi biên cương

Là địa bàn chiến lược nơi phên dậu Đông Bắc của Tổ quốc, thành phố Quảng Ninh vừa là "lá chắn" quốc phòng, an ninh, vừa là cực tăng trưởng kinh tế năng động. Đứng trước yêu cầu phát triển mới, thành phố xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; gắn liền với tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực quản trị và củng cố niềm tin nhân dân để tạo dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.

Đảm bảo các công trình đáp ứng thực chất nhu cầu học tập của học sinh vùng biên

Đảm bảo các công trình đáp ứng thực chất nhu cầu học tập của học sinh vùng biên

Tại các trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới, một số hạng mục vẫn đang tiếp tục thi công, hoàn thiện trong khi các học sinh đã học tập, ăn ở tại trường. Trước tình hình đó, tỉnh Gia Lai yêu cầu khẩn trương xử lý những bất cập về nước sinh hoạt, vệ sinh, an toàn công trường và chất lượng công trình, không để quá trình thi công ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt của học sinh.

Tăng hậu kiểm, quản trị rủi ro trong giải quyết thủ tục hành chính

Tăng hậu kiểm, quản trị rủi ro trong giải quyết thủ tục hành chính

Nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, Tuyên Quang xác định cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ thường xuyên, gắn với trách nhiệm người đứng đầu đơn vị.