Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 không còn tình trạng hôn nhân cận huyết thống, việc xây dựng và thực thi đồng bộ các giải pháp đột phá, căn cơ, từ đổi mới căn bản nội dung truyền thông, tư vấn khám sức khỏe tiền hôn nhân, phát huy vai trò của người có uy tín, nâng cao vị thế phụ nữ cho tới siết chặt kỷ cương pháp luật là "mệnh lệnh" cấp bách từ trái tim và trách nhiệm của toàn xã hội.
Bài 1: Hôn nhân cận huyết thống và những chuyện buồn về ‘bà mẹ trẻ’ nơi rẻo cao
Trong bức tranh sinh hoạt cộng đồng tại nhiều vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới của Tổ quốc, nếu như tảo hôn thường bộc lộ rõ rệt bằng những đám cưới vội vã của các cô dâu, chú rể tuổi trăng tròn, hôn nhân cận huyết thống lại diễn ra âm thầm, dai dẳng phía sau các nếp nhà và định kiến gia tộc.
Mặc dù về mặt số lượng và tỷ lệ, kết hôn cận huyết thống không ồ ạt, phổ biến như nạn tảo hôn, song hậu quả di chứng để lại cho thể trạng con người, sức khỏe giống nòi và chất lượng dân số lại vô cùng nặng nề, khó có thể đo đếm hết bằng số học thông thường.
Hôn nhân cận huyết thống từ lâu đã trở thành một trong những lực cản âm thầm bào mòn thể chất, trí tuệ và sự phát triển giống nòi của đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS). Việc kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ phổ biến là anh em con cô, con cậu, con chú, con bác lấy nhau không chỉ đi ngược lại thuần phong mỹ tục tiến bộ và các quy định của pháp luật, mà còn trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong lâu dài của nhiều cộng đồng dân tộc.
Là tỉnh miền núi với trên 80% dân số là đồng bào DTTS, thời gian qua, Điện Biên đối mặt với không ít thách thức trong công tác xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, nhất là tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Kết hôn khi chưa đủ tuổi, nhiều cặp vợ chồng không chỉ vi phạm pháp luật, mà còn kéo theo nhiều hệ lụy về sức khỏe, chất lượng dân số, vòng luẩn quẩn của đói nghèo, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Theo thống kê, giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Điện Biên ghi nhận gần 7.000 trường hợp tảo hôn trên tổng số hơn 25.000 người kết hôn (chiếm khoảng 27,9%), có 10 trường hợp hôn nhân cận huyết thống (chiếm khoảng 0,05%). Mặc dù con số 10 trường hợp kết hôn cận huyết chiếm tỷ lệ khoảng 0,05%, tỷ lệ tưởng chừng rất nhỏ, nhưng hậu quả di chứng của nó lại kéo dài qua nhiều thế hệ. Đáng chú ý, dù tỷ lệ tảo hôn có xu hướng giảm qua các năm, song kết quả đạt được chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái diễn còn lớn.
Thực tế tại nhiều địa phương trong tỉnh Điện Biên, không khó để bắt gặp những hoàn cảnh xót xa. Vợ chồng em Giàng A Tình, ở xã Pu Nhi (Điện Biên) là một ví dụ điển hình. Lấy nhau được 3 năm và đã có con trai 2 tuổi, nhưng vợ chồng Tình vẫn không có việc làm ổn định, thiếu hụt kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản và kỹ năng làm cha, làm mẹ. Từ ngày về ở chung một nhà, cuộc sống bấp bênh của đôi vợ chồng trẻ này vẫn hoàn toàn dựa vào sự hỗ trợ chắp vá của gia đình.
Tương tự, em Giàng Thị Di, ở xã Mường Phăng (Điện Biên), phải ngậm ngùi gác lại ước mơ đến trường, nghỉ học khi chưa học hết lớp 8, chỉ vì lỡ mang thai và kết hôn sớm. Việc kết hôn và sinh con khi chưa đủ tuổi khiến nhiều phụ nữ trẻ đối mặt với nguy cơ tai biến sản khoa cao, trẻ sinh ra dễ bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em cao hơn. Nhiều em bỏ học giữa chừng, mất cơ hội tiếp cận việc làm và cải thiện cuộc sống, kéo theo vòng luẩn quẩn của đói nghèo và lạc hậu.
Phân tích nguyên nhân sâu xa từ địa bàn cơ sở, Bí thư Đoàn xã Pu Nhi Sùng A Chứ chỉ rõ: Do nhận thức và sự hiểu biết pháp luật của một bộ phận người dân tộc ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế, nhiều hủ tục vẫn tồn tại dai dẳng. Cùng với đó là quan niệm của người dân muốn con cái kết hôn sớm để có thêm lao động trong nhà. Đặc biệt, một số cặp vợ chồng lấy nhau không đi đăng ký kết hôn nên việc nắm bắt tình hình ở cơ sở gặp vô vàn khó khăn, khiến tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trên địa bàn còn diễn biến phức tạp.
Hay ở địa bàn xã Môn Sơn (Nghệ An), nơi có tộc người Đan Lai cũng vẫn còn tồn tại không ít những phong tục tập quán lạc hậu như: Mời thầy cúng về làm vía khi có người trong gia đình bị ốm đau (Dân tộc Thái), hôn nhân cận huyết thống, lấy chồng sớm khi chưa đủ tuổi kết hôn. Người Đan Lai quan niệm "Phụ nữ 18 tuổi chưa cưới chồng là ế", do sống cách xa trung tâm xã, đường đi lại vô cùng khó khăn, sự khác biệt với các đồng bào dân tộc khác, nên anh em, họ hàng vẫn kết hôn với nhau. Hiện nay, số hộ dân Đan Lai ở Môn Sơn đa số là hộ nghèo, nhưng đám cưới tổ chức rất linh đình, uống rượu nhiều ngày liền.
Có thể nói đây là các hủ tục đã có từ lâu đời đã ăn sâu vào nếp sống của người dân, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân, anh em cùng họ hàng huyết thống lấy nhau làm suy thoái nòi giống, thể chất còi cọc, thường xuyên đau ốm, bệnh tật... Khi đau ốm bệnh tật không được chữa trị kịp thời, mà lại sử dụng một số bài thuốc gia truyền, dân gian, có khi mời cả thầy lang, thầy cúng về chữa trị bệnh... Từ đó dẫn tới bệnh lại càng nặng hơn, khó khăn đói nghèo bủa vây, giai dẳng.
Hệ lụy của nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống dẫn đến nhiều bạn trẻ chưa đủ tuổi vị thành niên đã cặp kè với nhau rồi lấy nhau, trong khi đó chưa tự chủ được kinh tế, phụ thuộc vào bố mẹ; chưa có kiến thức về gia đình, nuôi dạy con cái, tuổi còn trẻ nảy sinh nhiều vấn đề rồi lại sinh con sớm, có cháu chưa đến 20 tuổi nhưng có con đã 6-7 tuổi...
Bài 2: Thể trạng còi xương và hệ lụy khôn lường về di truyền học