Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Cùng với ẩm thực, trang phục, trò chơi dân gian, nghề dệt trở thành nguồn lực để địa phương tạo sức hút cho du lịch, mở thêm cơ hội sinh kế và khuyến khích người dân gìn giữ bản sắc.

Nghệ nhân thực hiện các công đoạn chế tác vải lanh truyền thống của đồng bào Mông ở Lùng Tám (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ/TTXVN
Nghệ nhân thực hiện các công đoạn chế tác vải lanh truyền thống của đồng bào Mông ở Lùng Tám (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Giữ nghề để tạo sinh kế, đón khách

Câu chuyện ấy gắn với hành trình bền bỉ của nghệ nhân Vàng Thị Mai, Giám đốc Hợp tác xã Lanh Lùng Tám. Năm 2001, bà đứng ra thành lập hợp tác xã với hơn 10 thành viên. Những ngày đầu, việc phụ nữ đi làm tập trung còn xa lạ với nhiều gia đình người Mông. Bà phải kiên trì vận động, giúp các gia đình hiểu rằng người phụ nữ có việc làm, có thu nhập sẽ góp phần giảm bớt khó khăn trong cuộc sống.

Từ khởi đầu ấy, hợp tác xã từng bước đưa sản phẩm lanh đến thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời duy trì truyền dạy kỹ năng cho người học nghề. Hành trình của bà Mai cho thấy một hướng gìn giữ văn hóa từ đời sống: tạo điều kiện để người biết nghề tiếp tục làm nghề, sản phẩm có người mua và phụ nữ có thêm cơ hội chủ động về kinh tế.

Theo bà Mai, muốn giữ được nghề dệt lanh phải có người tiếp nối và tìm được đầu ra cho sản phẩm. Đón khách đến làng nghề là một cách gắn việc giữ nghề với sinh kế của người dân. Qua từng thao tác dệt vải, vẽ sáp ong, thêu hoa văn..., du khách có dịp tìm hiểu công sức, sự khéo léo của người thợ và lựa chọn những sản phẩm mang dấu ấn văn hóa dân tộc Mông làm quà.

Sức hấp dẫn của nghề dệt lanh nằm trong từng công đoạn đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo léo. Từ tước sợi, se sợi đến dệt vải, nhuộm chàm, thêu, đắp vải màu, vẽ sáp ong, người thợ gửi vào sản phẩm kỹ năng tích lũy qua nhiều năm. Những chiếc túi, ví, khăn hay bộ trang phục mang hoa văn truyền thống vì thế chứa đựng cả công sức lao động và hiểu biết văn hóa được trao truyền giữa các thế hệ.

Đối với khách tham quan, việc quan sát người thợ làm việc, tìm hiểu nguyên liệu và thử một số thao tác dưới sự hướng dẫn tạo thêm chiều sâu cho chuyến đi. Một sản phẩm được giới thiệu cùng cách làm, công dụng và những nét riêng của hoa văn sẽ giúp người mua hiểu rõ hơn giá trị mình lựa chọn. Người làm nghề cũng có dịp lắng nghe nhu cầu của khách, hoàn thiện mẫu mã, cách giới thiệu và đóng gói sản phẩm.

Ngày hội văn hóa các dân tộc xã Lùng Tám năm 2026, dự kiến tổ chức trong hai ngày 24 - 25/10, là dịp để địa phương giới thiệu rõ hơn những giá trị ấy. Theo kế hoạch, không gian văn hóa dệt lanh được bố trí riêng, do hợp tác xã dệt lanh của xã thực hiện. Cùng với trưng bày sản phẩm, chương trình dự kiến trình diễn các công đoạn từ thu hoạch, tước sợi, se sợi đến nhuộm chàm, dệt vải, thêu hoa văn và may trang phục truyền thống.

Việc giới thiệu quy trình làm ra sản phẩm trong cùng không gian giới thiệu sản phẩm giúp du khách hình dung hành trình từ cây lanh đến thành phẩm. Những kỹ năng vốn quen thuộc trong cuộc sống của người dân trở thành nội dung để du khách tìm hiểu, giao lưu. Đây cũng là cơ hội để người trẻ tiếp cận nghề, nhận biết công sức của các bà, các mẹ và hiểu thêm giá trị của những sản phẩm gắn với văn hóa dân tộc mình.

Theo ông Hà Văn Chung, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lùng Tám, bảo tồn văn hóa cần bắt đầu từ việc khơi dậy niềm tự hào và trách nhiệm của người dân đối với những giá trị được các thế hệ trước trao truyền. Địa phương hướng tới tạo điều kiện để nghệ nhân, người làm nghề và cộng đồng các thôn trực tiếp giới thiệu bản sắc; khuyến khích thế hệ trẻ tìm hiểu, học hỏi, tiếp nối. Khi người dân nhận thấy giá trị của nghề truyền thống và có cơ hội cải thiện đời sống từ nghề, việc gìn giữ văn hóa sẽ có thêm động lực.

Tạo sức hút từ sự tham gia của cộng đồng

Nghệ nhân thực hiện các công đoạn chế tác vải lanh truyền thống của đồng bào Mông ở Lùng Tám (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Nghệ nhân thực hiện các công đoạn chế tác vải lanh truyền thống của đồng bào Mông ở Lùng Tám (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Bên cạnh dệt lanh, Lùng Tám còn có những nét văn hóa trong ẩm thực, trang phục và sinh hoạt cộng đồng để giới thiệu với du khách. Theo kế hoạch ngày hội, các cuộc thi nấu mèn mén, giã bánh dày, trình diễn trang phục sẽ được tổ chức cùng các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian như đẩy gậy, đi cà kheo, kéo co, tung còn.

Cả 8 thôn trên địa bàn xã được huy động tham gia, từ lựa chọn nghệ nhân, diễn viên, vận động viên đến chuẩn bị sản phẩm, gian hàng. Mỗi thôn có thể mang đến những kỹ năng, món ăn và sản vật gắn với đời sống của mình. Qua đó, người dân trực tiếp góp phần tạo nên nội dung ngày hội, đồng thời có cơ hội giới thiệu, bán sản phẩm và tham gia cung cấp dịch vụ.

Sự tham gia của cộng đồng là điều kiện để hoạt động du lịch thể hiện được nét riêng của địa phương. Một món ăn được giới thiệu bởi người thường xuyên chế biến, một thao tác dệt được hướng dẫn bởi người thợ có kinh nghiệm hay một bộ trang phục được giải thích về cách làm đều giúp cuộc gặp giữa người dân và du khách trở nên gần gũi hơn.

Ngày hội văn hóa các dân tộc xã Lùng Tám được tổ chức gắn với Lễ hội Hoa Tam giác mạch tỉnh Tuyên Quang lần thứ XII năm 2026. Theo kế hoạch của UBND xã, địa điểm dự kiến là sân vận động Nà Sài, khai mạc lúc 7 giờ 30 phút ngày 24/10. Ngoài các hoạt động văn hóa, thể thao, chương trình có không gian trưng bày, bán sản phẩm địa phương và dự kiến có 6 gian hàng ẩm thực.

Để kết nối chương trình với các hành trình tham quan, UBND xã giao Phòng Văn hóa - Xã hội phối hợp với Trung tâm Xúc tiến du lịch tỉnh bố trí, hỗ trợ các công ty lữ hành đưa khách đến địa phương trong dịp ngày hội. Đây là cơ hội để các đơn vị đưa khách tìm hiểu thêm sản phẩm, dịch vụ của Lùng Tám; đồng thời giúp hợp tác xã và người dân tiếp cận nhu cầu của các đoàn khách.

Ông Nguyễn Chiến Thuật, Chủ tịch UBND xã Lùng Tám cho biết, thông qua ngày hội, địa phương mong muốn giới thiệu những giá trị văn hóa, sản phẩm đặc trưng và sự mến khách... Công tác tổ chức hướng tới sự thuận tiện, an toàn, thân thiện, tạo điều kiện để người dân, hợp tác xã và hộ kinh doanh tham gia giới thiệu, bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ. Cùng với quảng bá, xã chú trọng phối hợp với các đơn vị lữ hành, tìm kiếm cơ hội kết nối trải nghiệm văn hóa với hành trình du lịch.

Chất lượng đón tiếp cũng được đặt ra bằng những công việc cụ thể. Theo kế hoạch, địa phương sẽ kiểm tra việc niêm yết, công khai giá dịch vụ tại các cơ sở lưu trú, nhà hàng, quán ăn; bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và hướng dẫn phương tiện dừng, đỗ. Đoàn viên, thanh niên được phân công hỗ trợ, hướng dẫn khách tham quan.

Các thôn được vận động chỉnh trang nhà cửa, đường làng, ngõ xóm, giữ gìn vệ sinh và tạo cảnh quan sạch đẹp. Những việc này góp phần tạo không gian đón khách thuận tiện từ khu vực tổ chức chương trình đến các tuyến đường, khu dân cư. Sự niềm nở của người dân, thông tin hướng dẫn rõ ràng và giá dịch vụ công khai là những yếu tố thiết thực để xây dựng thiện cảm với điểm đến.

Từ câu chuyện của bà Vàng Thị Mai và những người phụ nữ làm nghề dệt lanh có thể thấy, giá trị văn hóa được tiếp nối khi gắn với công việc, thu nhập và sự chủ động của người dân. Phát triển du lịch mở thêm cơ hội để những kỹ năng thủ công được giới thiệu, sản phẩm tìm được khách hàng và người trẻ có thêm lý do học nghề.

Với Lùng Tám, ngày hội sắp tới là dịp tăng cường những kết nối ấy. Khi trải nghiệm tại làng nghề, ẩm thực và sinh hoạt văn hóa được tổ chức phù hợp, có sự phối hợp với đơn vị lữ hành và dịch vụ chu đáo, địa phương có thêm điều kiện đưa bản sắc trở thành sức hút của điểm đến, đồng thời tạo nguồn lực để cộng đồng tiếp tục gìn giữ những giá trị truyền thống.

Minh Tâm/TTXVN
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Chiều 10/10, UBND xã Thuận Hòa (Tuyên Quang) đã tổ chức Lễ hội Cốm - Hương cốm sắc thu năm 2026, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội là dịp tôn vinh nghề làm cốm truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và quảng bá sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Sáng 10/10, Lễ hội Katê năm 2026 của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tỉnh Lâm Đồng đã khai mạc tại di tích tháp Pô Sah Inư, phường Phú Thủy, thu hút hàng nghìn người dân, du khách trong và ngoài nước tham quan, tìm hiểu nét văn hóa độc đáo này.

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Qua mỗi mùa Katê, những bộ y trang thiêng lại được đồng bào Raglai trao cho cộng đồng Chăm để thực hiện nghi lễ truyền thống. Đây cũng là minh chứng sinh động cho mối quan hệ gắn bó lâu đời giữa hai cộng đồng Chăm và Raglai trên vùng đất Nam Trung Bộ.