Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Chủ đầu tư dự án Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới tại xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng đang tập trung nhân lực, vật lực đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành 60 căn nhà và bàn giao cho người dân trước dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

nha-o-quang-truc-2.jpg
Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng được huy động để hỗ trợ thi công dự án.

Dưới cái nắng gay gắt của vùng biên, gần 200 nhân công, trong đó, phần lớn là cán bộ, chiến sỹ và dân quân thường trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng đang tập trung đào đắp đất, đổ móng, xây tường...

Chỉ sau hơn 1 tuần thi công, nhiều căn nhà tại Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Quảng Trực đã hoàn thành khoảng 1/4 phần thô. Những mái nhà đang dần hiện hữu, mang đến niềm vui, sự phấn khởi cho đồng bào M’Nông bon Bu Nung, xã Quảng Trực khi giấc mơ về nơi ở kiên cố, thuận tiện từng bước trở thành hiện thực.

nha-o-quang-truc-3.jpg
Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng được huy động để hỗ trợ thi công dự án.

Ông Điểu Trí, Trưởng bon Bu Nung, xã Quảng Trực cho biết, bà con M’Nông có truyền thống sinh sống tập trung. Bon cũ Bu Nung nhiều năm liền không đủ chỗ ở, nhà cửa chật hẹp, nhiều thế hệ chen chúc trong những căn nhà lụp xụp, xuống cấp. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của bộ đội, giờ đây, bà con sắp có được nơi ở mới khang trang. Nhìn nền móng những căn nhà và các bản vẽ phác thảo, ông Điểu Trí cho biết, nhà cửa được xây dựng cơ bản đáp ứng nhu cầu của bà con, việc đi lại cũng thuận tiện nhờ khu dân cư nằm tiếp giáp với Quốc lộ 14C và gần trung tâm xã Quảng Trực.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng được huy động để hỗ trợ thi công dự án.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng được huy động để hỗ trợ thi công dự án.

Với mục tiêu hoàn thành công trình và bàn giao nhà cho 60 hộ dân được thụ hưởng vào dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chủ đầu tư và nhà thầu đã huy động nhân lực, vật lực tối đa đẩy nhanh tiến độ dự án. Các lực lượng bám sát công trường, tổ chức thi công khoa học, đồng thời kịp thời tháo gỡ khó khăn, bảo đảm tiến độ, chất lượng và an toàn.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng được huy động để hỗ trợ thi công dự án.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng được huy động để hỗ trợ thi công dự án.

Trung úy Lê Quốc Tuấn, cán bộ Phòng Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng cho biết, đây là dự án quan trọng, vừa ổn định chỗ ở cho bà con M’Nông tại xã vùng biên Quảng Trực, vừa có ý nghĩa lớn về quốc phòng - an ninh nên đơn vị và từng cán bộ, chiến sỹ được phân công đến công trường đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao để dự án hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng. Các lực lượng tổ chức làm việc cả thứ Bảy, Chủ nhật tranh thủ thời tiết mùa khô, việc thi công thuận lợi.

Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Quảng Trực được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 2 ha tại bon Bu Dăr, xã Quảng Trực với tổng kinh phí hơn 14 tỷ đồng. Trong đó, Quân khu 7 (Bộ Quốc phòng) hỗ trợ trên 8 tỷ đồng, UBND tỉnh Lâm Đồng hỗ trợ 6 tỷ đồng. Công trình gồm 60 căn nhà liền kề và hạ tầng thiết yếu, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cơ bản cho các hộ dân khu vực biên giới.

Vị trí dự án nằm ven Quốc lộ 14C, gần khu dân cư.

Vị trí dự án nằm ven Quốc lộ 14C, gần khu dân cư.

Trong điều kiện hạ tầng còn nhiều khó khăn của vùng biên giới, sự vào cuộc quyết liệt của các lực lượng cùng tinh thần đoàn kết, trách nhiệm đã và đang làm đổi thay diện mạo vùng biên Quảng Trực. Những mái nhà dần hiện hữu không chỉ mang đến niềm vui an cư, lạc nghiệp cho bà con mà còn thắp lên niềm tin về một cuộc sống ổn định, bền vững. Mỗi ngôi nhà hoàn thành sẽ là một cột mốc sống, góp phần xây dựng "phên giậu" vững chắc nơi tuyến đầu Tổ quốc./.

Tin, ảnh: Hưng Thịnh/TTXVN
Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

Ở: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông

Có thể bạn quan tâm

Hơn 300 ha cây trồng bị ngập úng, nhiều hộ dân, du khách sơ tán

Hơn 300 ha cây trồng bị ngập úng, nhiều hộ dân, du khách sơ tán

Ngày 4/10, Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự tỉnh Lâm Đồng đã có báo cáo nhanh về tình hình ảnh hưởng, thiệt hại do thiên tai gây ra từ ngày 2 đến ngày 4/10 xảy ra trên địa bàn tỉnh. Tuy không có thiệt hại về người nhưng mưa lũ đã gây ngập úng hàng trăm hecta cây trồng, hàng chục hộ dân và du khách phải sơ tán đến nơi an toàn.

Khẩn trương hỗ trợ người dân giảm thiểu thiệt hại do mưa lũ

Khẩn trương hỗ trợ người dân giảm thiểu thiệt hại do mưa lũ

Ngày 4/10, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh cho biết đã chỉ đạo Đồn Biên phòng Thuận Bình và Đồn Biên phòng Mỹ Thạnh Tây huy động lực lượng hỗ trợ người dân thu hoạch lúa bị ngập do mưa lũ tại xã Bình Thành, tỉnh Tây Ninh nhằm hạn chế thiệt hại về sản xuất.

Bước chân trên mây - Chinh phục con đường đá cổ PaVi năm 2026

Bước chân trên mây - Chinh phục con đường đá cổ PaVi năm 2026

Sáng 4/10 đã diễn ra Giải leo núi “Bước chân trên mây - Chinh phục con đường đá cổ PaVi năm 2026” giữa không gian hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc ở xã biên giới Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu. Sự kiện góp phần mở ra hành trình trải nghiệm thiên nhiên, văn hóa vùng cao, quảng bá hình ảnh Lai Châu - điểm đến giàu bản sắc, hấp dẫn du khách.

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.