Gắn điệu múa với đời sống cộng đồng
Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh Điện Biên, người Cống hiện sinh sống tập trung tại 4 bản gồm: Lả Chà (xã Mường Chà), bản Nậm Kè (xã Nậm Kè), bản Huổi Moi và Púng Bon (xã Thanh Yên), với 247 hộ, trên 1.210 nhân khẩu. Người Cống sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao, ven sông, sinh kế dựa vào trồng trọt, chăn nuôi theo phương thức tự cung, tự cấp. Dù không có chữ viết riêng, đồng bào vẫn lưu giữ kho tàng văn hóa dân gian phong phú, với các lễ hội như, Tết hoa mào gà, lễ mừng cơm mới; các trò chơi dân gian, làn điệu dân ca và nhạc cụ truyền thống (trống, chiêng).
Trong đó, nghệ thuật múa dân gian giữ vai trò quan trọng, phản ánh đời sống lao động, tín ngưỡng và quan niệm về cuộc sống của người Cống. Không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần, các điệu múa còn góp phần gắn kết cộng đồng, kết nối các thế hệ và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhờ đó, nhiều điệu múa được hình thành từ hoạt động lao động sản xuất như, múa gieo hạt, tuốt lúa, giã gạo, lên nương, tra hạt.
Mỗi động tác đưa tay, nhún chân, cúi người được người dân cách điệu từ công việc thường ngày, đạo cụ biểu diễn là những vật dụng quen thuộc như, giỏ tre, mẹt, cối và chày gỗ. Mỗi điệu múa mang sắc thái riêng. Nếu như múa tuốt lúa tái hiện động tác thu hoạch, đưa lúa vào giỏ thì múa giã gạo mô phỏng các công đoạn chế biến lương thực. Trong khi đó, múa mừng nhà mới và múa mừng Tết hoa mào gà thể hiện niềm vui, lời cầu chúc bình an, no ấm cho gia đình và cộng đồng.
Theo Bí thư Chi bộ bản Nậm Kè, xã Nậm Kè Lý Văn Tám, các điệu múa thường được biểu diễn tập thể cùng tiếng trống, chiêng, tạo không khí vui tươi trong những dịp lễ hội. Không chỉ phản ánh đời sống lao động, sản xuất, nghệ thuật múa còn thể hiện phong tục, tín ngưỡng và sự gắn kết giữa các thành viên trong bản.
Trải qua thời gian, các động tác múa được sáng tạo, hoàn thiện từ những cử chỉ mô phỏng lao động, sinh hoạt và nghi thức tín ngưỡng. Những điệu múa với động tác uyển chuyển, nhịp nhàng cùng tiếng trống, chiêng đã trở thành một phần trong đời sống tinh thần, phản ánh quan niệm về thiên nhiên, con người và cộng đồng của dân tộc Cống.
Những năm qua, tỉnh Điện Biên triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn, phát huy nghệ thuật múa dân gian của người Cống. Tỉnh hiện có 3 Nghệ nhân Ưu tú là người Cống, được tạo điều kiện tham gia biểu diễn, truyền dạy tại các lễ hội, hội thi và sự kiện văn hóa trong, ngoài tỉnh. Các đội văn nghệ tại bản cũng được duy trì nhằm thực hành, trao truyền các điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc truyền thống.
Địa phương tổ chức trình diễn nghệ thuật múa của người Cống tại Lễ hội Hoa Ban, Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch; hỗ trợ thiết bị âm thanh, nhạc cụ cho nhà văn hóa bản; đồng thời trưng bày hình ảnh, hiện vật về văn hóa dân tộc Cống tại Bảo tàng tỉnh và các sự kiện văn hóa.
Trao truyền cho thế hệ trẻ
Năm 2025, tỉnh Điện Biên phối hợp tổ chức lớp tập huấn, truyền dạy dân ca, dân vũ, dân nhạc của người Cống. Bên cạnh đó, nghệ thuật múa dân gian của dân tộc này còn được đưa vào đề tài nghiên cứu, sưu tầm và bảo tồn di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch. Để bảo tồn và phát huy giá trị, ngày 5/3/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã có Quyết định số 430/QĐ-BVHTTDL về việc đưa Nghệ thuật múa của người Cống vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể.
Ngày 20/10/2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên phối hợp với UBND xã Nậm Kè tổ chức Lễ công bố Quyết định và trao Giấy chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật múa của người Cống tỉnh Điện Biên.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên Nguyễn Thị Thanh Chuyên nhấn mạnh, đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và tỉnh Điện Biên đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc. Sự kiện cũng là dịp tôn vinh giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Cống, tri ân các thế hệ nghệ nhân đã có công gìn giữ, trao truyền di sản, đồng thời khẳng định vai trò chủ thể của cộng đồng trong bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống.
Để bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa dân gian của người Cống, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên đề nghị, chính quyền các xã Nậm Kè, Mường Chà và Thanh Yên cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về giá trị di sản; xây dựng kế hoạch bảo tồn phù hợp điều kiện thực tế, gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Các địa phương huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ; thành lập, duy trì câu lạc bộ văn hóa dân gian, tạo điều kiện để nghệ nhân truyền dạy, hướng dẫn thế hệ trẻ thực hành các điệu múa truyền thống, từng bước đưa công tác bảo tồn di sản trở thành hoạt động thường xuyên trong cộng đồng.
Bí thư Chi bộ bản Nậm Kè Lý Văn Tám phấn khởi cho biết, nghệ thuật múa của người Cống được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là niềm tự hào của cộng đồng, đồng thời đặt ra trách nhiệm gìn giữ bản sắc dân tộc. Người dân trong bản tiếp tục đoàn kết, động viên thế hệ trẻ học hỏi, thực hành các điệu múa truyền thống; đồng thời mong muốn các cấp, ngành tiếp tục hỗ trợ bảo tồn, phát huy di sản gắn với đời sống cộng đồng và giới thiệu văn hóa người Cống đến đông đảo công chúng.
Tên tự gọi: Xắm khống, Phuy A.
Dân số: 2.029 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng) gần hơn với tiếng Miến, cùng nhóm với các tiếng La Hủ, Phù Lá, Si La... Họ quen sử dụng tiếng Thái trong giao dịch hàng ngày.
Lịch sử: Người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương, đang chuyển sang làm nương cuốc, ruộng. Hái lượm còn giữ vai trò quan trọng. Người Cống không quen dệt vải, chỉ trồng bông để đổi lấy vải của các dân tộc khác. Họ giỏi đan chiếu mây nhuộm đỏ, các đồ đựng bằng tre nứa như gùi đeo, giỏ đựng cơm, rương hòm... Chuyển xuống định cư ven sông Ðà, nên người Cống quen dần với việc sử dụng thuyền trên sông.
Ăn: Người Cống ăn cơm nếp và cơm tẻ.
Mặc: Y phục của người Cống giống người Thái. Một ít gia đình còn giữ lại vài bộ y phục truyền thống bằng vải dệt của người Lào.
Ở: Nhà sàn ba hay bốn gian, chỉ có một cửa ra vào, một cửa sổ ở gian giữa, chạy dọc theo vách mặt chính của nhà có thêm một chiếc sàn nhỏ ít có giá trị sử dụng nhưng nhà nào cũng có là đặc trưng trong nhà người Cống.
Phương tiện vận chuyển: Người Cống quen sử dụng thuyền đi lại trên sông Ðà và gùi đeo qua trán khi đi nương, đi rẫy.
Quan hệ xã hội: Người Cống ở khá tập trung trong các làng bản có quy mô vừa và lớn. Tính cộng đồng làng bản cao. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình cũng như xã hội.
Trong xã hội cổ truyền, chưa có sự phân hoá giai cấp, chịu sự chi phối chặt chẽ của hệ thống chức dịch người Thái.
Dân số ít song người Cống có tới 13 dòng họ khác nhau. Ða số các dòng họ mang tên Thái như: Lò, Quang, Kha... dấu vết tô tem giáo còn rõ nét với tục kiêng và thờ các loại chim muông, thú vật. Mỗi dòng họ thường có người đứng đầu với chức năng chủ trì các công việc liên quan tới đời sống tinh thần.
Cưới xin: Hôn nhân một vợ một chồng chặt chẽ. Không có đa thê, ly dị trong xã hội truyền thống.
Tục ở rể được thực hiện nghiêm ngặt, trước kia khoảng 8 - 12 năm. Lễ vật truyền thống trong lễ xin con trai tới ở rể thường vào buổi tối là gói muối, gói chè, cuộn dây gai đan chài, hay một ống rượu cần... Ngay sáng hôm sau, người con trai mang chăn, gối, con dao tới nhà gái ở rể, cũng từ đó người con gái búi tóc ngược đỉnh đầu, dấu hiệu của người đã có chồng.
Lễ đón dâu về nhà trai khi hạn ở rể đã hết, lúc đó đôi vợ chồng đã con cái đầy nhà. Của hồi môn bố mẹ cho con cái mang về nhà chồng. Nếu nhà trai người cùng bản phải cõng cô dâu về tận nhà. Trong ngày cưới, người ta không mặc quần áo mới vì có tục vẩy nước tro lên đoàn đón dâu trước khi ra về để cầu may.
Sinh đẻ: Sản phụ đẻ ngồi. Trước và sau khi đẻ phải kiêng kỵ nhiều thứ. Người Cống rất giỏi trong việc tìm kiếm lá thuốc để chăm sóc phụ nữ khi sinh nở.
Ma chay: Khi nhà có người chết, phải mời thầy mo tới làm lễ cúng đưa hồn về với tổ tiên. Việc chọn ngày chôn được coi trọng. Trong những ngày trước hôm chôn, thường phải cúng cơm cho người chết, buổi tối có các nghi thức nhảy múa truyền thống. Sau khi táng có làm nhà mồ đơn giản. Mười hai ngày sau khi chôn người chết, con cháu mới lập bàn thờ trong nhà. Con cái để tang cha mẹ bằng cách cạo trọc đầu (con trai), cắt tóc mai (con gái) và đội khăn tang cho tới khi cúng cơm mới, mới được bỏ.
Thờ cúng: Cùng với việc cúng tổ tiên 2, 3 đời theo phụ hệ là việc cúng ma bố mẹ vợ vào dịp tết. Bố chủ trì việc cúng. Nếu bố chết, mẹ thay thế. Khi anh em chia nhà ra ở riêng, mỗi người con trai lập bàn thờ cúng riêng tại nhà mình. Lễ vật cúng tổ tiên chỉ có bát gạo, ống nước và con gà. Người cúng ôm gà ngồi trước bàn thờ khấn, xong giết gà ngay tại chỗ, bôi máu vào lá dong, gói lại cài lên vách nơi thờ cúng vài ba chiếc lông gà.
Hàng năm cứ đến tháng ba âm lịch, các bản đều tổ chức lễ cúng bản trước vụ gieo hạt, các ngả đường vào bản làm cổng, cắm dấu hiệu kiêng kỵ một ngày không ai được vào bản.
Các gia đình đều làm lễ cúng trên nương trước khi kết thúc công việc tra hạt. Ðêm đó chủ nhà làm lễ cúng ở phía trên lều nương; lễ vật chỉ có cá, cua, cầu mong chim thú không phá hại; trồng vài khóm kiệu cầu xin lúa tốt, xanh tươi như khóm cây này.
Học: Việc giáo dục truyền thống thông qua kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác kết hợp với thực hành.
Văn nghệ: Người Cống thường hát múa vào dịp lễ tết, nhất là trong đám cưới. Hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái hôm đón dâu ở chân cầu thang trước khi lên nhà thực sự là một cuộc thi hát dân gian. Trai gái, già trẻ đều vui múa trong ngày cưới. Ðặc biệt là điệu múa đầu tiên do các em gái của chàng rể trình diễn để bắt đầu cuộc vui. Họ vừa múa, vừa giơ cao các tặng vật truyền thống như con gà, con sóc, cá khô mà người anh trai tặng mình.
Chơi: Các trò chơi tập thể như đuổi bắt, đánh khăng... được trẻ em ưa thích. Ngoài ra, chúng còn chơi các loại đồ chơi bằng tre gỗ tự chế.
Theo cema.gov.vn