Hiệu quả kinh tế cao nhờ ứng dụng máy làm đá tuyết từ nước biển

Hiệu quả kinh tế cao nhờ ứng dụng máy làm đá tuyết từ nước biển
Thạc sỹ Nguyễn Văn Luân, Chủ nhiệm đề tài cho biết: Từ trước đến nay, ngư dân nước ta thường sử dụng đá xay nước ngọt trong mỗi chuyến đi, điều này đòi hỏi phải sử dụng lượng đá lớn và làm ảnh hưởng đến chi phí xăng dầu. Trước tình hình đó, nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu thành công máy làm đá tuyết từ nước biển nhằm tiết kiệm chi phí trực tiếp, bao gồm tiết kiệm chi phí do hao hụt đá, tiết kiệm chi phí vận chuyển đá từ đất liền trên suốt chuyến đi và nâng cao chất lượng hải sản được bảo quản.

Theo Tổng cục Thủy sản-Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng tổn thất sau khai thác thủy sản ở nước ta chiếm khoảng 20 – 30% sản lượng khai thác. Trung bình một năm mất trên dưới 700.000 tấn hải sản do bị hư hỏng, với giá trị ít nhất khoảng 14.000 tỉ đồng. Vì thế, giảm thiểu tổn thất sau khai thác thủy sản luôn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của ngành thủy sản.

Thạc sỹ Nguyễn Văn Luân cho rằng, tình trạng tổn thất sau thu hoạch chủ yếu là do tàu khai thác thủy sản nước ta có công suất nhỏ, thiếu trang thiết bị bảo quản sản phẩm, ngư dân thường sử dụng đá xay nước ngọt trong mỗi chuyến đi, công nghệ bảo quản hải sản khi khai thác xa bờ ở nước ta còn nhiều điểm yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu do đó ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng hải sản.

Để khắc phục những tổn thất sau thu hoạch, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong mỗi chuyến đi. Máy sản xuất đá tuyết được lắp đặt có quy trình vận hành đơn giản, tự động hóa trong việc điều chỉnh thời gian, nhiệt độ bảo quản phù hợp với quy trình bảo quản hải sản. Người sử dụng có thể dễ dàng lựa chọn và điều chỉnh độ đậm đặc của sản phẩm đá tuyết trong dải từ 25% đến 95% hoặc theo nhiệt độ xác định. Đặc biệt, máy còn hiển thị, thông báo thời gian máy chạy, sản lượng đá, lượng tiêu thụ nhiên liệu trong mỗi chuyến đi biển, giúp chủ tàu có thể kiểm tra và theo dõi một cách dễ dàng. Máy làm đá tuyết cũng đã được thử nghiệm thành công tại nhiều tàu cá ở Hải Phòng.

Anh Luân chia sẻ: "Trong quá trình thực hiện máy làm đá tuyết, chúng tôi đã xác định được môi trường làm máy đá cũng khắc nghiệt, chính vì vậy quá trình thử nghiệm là rất quan trọng. Bởi vì không chỉ thử nghiệm trên phòng thí nghiệm mà chúng tôi còn thử nghiệm trong thực tế. Trong năm 2017 – 2018, chúng tôi đã thử nghiệm với các chủ tàu cá, đặc biệt là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Trường của thành phố Hải Phòng vừa là đơn vị của nhà máy chế biến hải sản, vừa là đơn vị có mức độ thu gom tàu cá cao. Với quá trình thử nghiệm trong một khoảng thời gian, kết quả thử nghiệm đã được lãnh đạo Công ty cũng như các chủ tàu đánh giá rất cao về tính ổn định, tiết kiệm được chi phí, đem lại hiệu quả cao. Đồng thời máy làm đá tuyết cũng đáp ứng được yêu cầu đặt ra so với thiết kế ban đầu".

Bình thường mỗi tàu cá của ngư dân phải mang khoảng 50-60 tấn đá lên tàu để ướp cá. Việc tàu cá phải mang nhiều đá làm sẵn đã làm tăng chi phí xăng dầu và vận hành; đá bị tổn hao, tan chảy trong quá trình vận chuyển nên các tàu không thể đánh bắt xa bờ vì không đủ đá để bảo quản. Ngoài ra, nguồn nước đá thường gần cảng biển, không được kiểm soát chất lượng nên hay bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm phèn, ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản đánh bắt…Do đó đây sẽ là sản phẩm giúp nâng cao chất lượng kinh tế, bảo quản nguồn thủy sản trên tàu cá, góp phần vào sự phát triển vào ngành nông nghiệp nước nhà.

Biết được tâm lý của người dân có những sự hạn chế trong tiếp cận công nghệ mới, nên đội ngũ nghiên cứu đã tính toán được những vấn đề tự động hóa. Do đó, điểm khác biệt của máy làm đá tuyết do nhóm nghiên cứu khác so với các máy nhập ngoại. Đó là tính sử dụng dễ dàng nên chỉ cần bấm nút là chạy, tất cả các quá trình về điều chỉnh nhiệt độ, cũng như các vấn đề xử lý nhiệt độ của cá cũng hoàn toàn tự động được nên người sử dụng không cần can thiệp vào.

Với những thành công được ứng dụng trên các tàu cá tại Hải Phòng, sản phẩm “máy làm đá tuyết từ nước” phục vụ bảo quản hải sản đánh bắt xa bờ của Thạc sỹ Nguyễn Văn Luân cùng với nhóm nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Công nghệ cao, đã được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) tổ chức Lễ công bố kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào ngày 23/11 vừa qua, nhằm giới thiệu rộng rãi đến với các ngư dân trên cả nước, giúp ngư dân nâng cao chất lượng, kéo dài thời gian bảo quản hải sản trên tàu và đảm bảo tính ổn định trong mỗi chuyến đi.

Hiện đề tài vẫn tiếp tục thực hiện đề tài cấp nhà nước để triển khai và mở rộng các nghiên cứu, áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác. Trước mắt, Trung tâm Phát triển Công nghệ cao sẽ thỏa thuận hợp tác với đảo Bạch Long Vỹ - Hải Phòng. Bởi đây là một trong 8 ngư trường lớn của Việt Nam, đồng thời cũng là quy hoạch trung tâm dịch vụ của nghề cá. Đảo thường xuyên thiếu điện, thiếu nước ngọt, cách xa đất liền. Nên việc cung cấp dịch vụ cho nghề cá là rất quan trọng, nhất là việc cung cấp đá ướp lạnh cho tàu cá. Chính vì vậy, trong thời gian tới Trung tâm sẽ triển khai một hệ thống sản xuất đá làm từ nước biển tại đảo, để cung cấp cho ngư dân nơi đây./.

Lý Thanh Hương

Có thể bạn quan tâm

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Bạn đọc hỏi: Tôi là thầy giáo 48 tuổi, đã đóng BHXH bắt buộc 25 năm 5 tháng, trong đó có 8 năm công tác ở vùng đặc biệt khó khăn. Do sức khỏe không ổn định nên tôi muốn nghỉ việc để chuyển sang công việc khác. Xin hỏi, nếu không đóng tiếp BHXH thì đợi đến năm 62 tuổi mới nhận được lương hưu, thì mức lương hưu hằng tháng được tính như thế nào? Thời gian công tác ở vùng đặc biệt khó khăn là 8 năm có được tính để nghỉ hưu sớm hay không?

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Tại các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi - nơi quy tụ đồng bào của 44 dân tộc thiểu số cùng chung sống, rào cản ngôn ngữ từng là khó khăn lớn trong công tác tiếp xúc, giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và giáo viên công tác tại cơ sở.

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học, tỉnh Điện Biên đang từng bước xây dựng môi trường giáo dục số. Công nghệ không chỉ làm cho bài học trực quan, sinh động hơn mà còn hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy và công tác quản lý nhà trường. Ghi nhận tại Trường Tiểu học và THCS Mường Thanh, phường Mường Thanh.

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Ngày 28/9, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng và các quy định của pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng năm 2026.

Bảo tồn nguồn gen, mở rộng chăn nuôi gà sáu ngón Mẫu Sơn

Bảo tồn nguồn gen, mở rộng chăn nuôi gà sáu ngón Mẫu Sơn

Gà sáu ngón là con nuôi bản địa quý đã gắn bó lâu đời với người dân xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Đây là giống gà có giá trị dinh dưỡng và đem lại thu nhập cao, được bà con dân tộc Dao, Tày, Nùng nuôi rải rác ở vùng núi cao Mẫu Sơn.

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Sau sự việc cơ sở đốt than củi gây ô nhiễm, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai rà soát toàn bộ 15 cơ sở sản xuất than củi quế, siết chặt quản lý đất đai, xây dựng và môi trường; yêu cầu hoàn thiện thủ tục pháp lý, hệ thống xử lý khí thải trước khi hoạt động trở lại.

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.