Hơn 20 năm qua, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer tại An Giang đều mở lớp dạy chữ Khmer miễn phí cho con em đồng bào. Không chỉ truyền dạy tiếng nói, chữ viết, những lớp học đặc biệt này còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, bồi đắp đạo đức, lối sống và tình yêu cội nguồn cho thế hệ trẻ.
Giữ gìn tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa
Chùa Sóc Xoài (xã Hòn Đất) là một trong những ngôi chùa Nam tông Khmer duy trì nhiều lớp dạy chữ Khmer miễn phí nhất tại An Giang. Đại đức Danh Minh, Phó trụ trì chùa Sóc Xoài cho biết, dịp hè 2026, chùa mở 8 lớp với khoảng 250 học sinh và tăng sinh từ 6-14 tuổi theo học. Bên cạnh việc dạy đọc, viết tiếng Khmer, các vị sư còn lồng ghép giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, phong tục, tập quán và những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ.
Em Danh Hùng (13 tuổi) đã có ba mùa hè học chữ Khmer tại chùa Sóc Xoài cho biết, hiện em đã đọc, viết thành thạo những câu chữ thông dụng và hiểu hơn về truyền thống dân tộc mình. Theo Hùng, năm nay em vào lớp 6 Trường Trung học cơ sở Sóc Xoài - nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống. Việc học tiếng Khmer không chỉ giúp em thuận lợi hơn trong giao tiếp mà còn hiểu thêm về lễ nghĩa, truyền thống văn hóa dân tộc.
Theo Hòa thượng Danh Đổng, Chủ tịch Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh An Giang, hè năm 2026, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trên địa bàn tỉnh mở 461 lớp dạy chữ Khmer từ lớp 1 đến lớp 5, thu hút gần 13.000 học sinh và chư tăng tham gia. Việc dạy chữ luôn gắn với truyền dạy phong tục, nghi lễ, đạo đức và văn hóa truyền thống, góp phần giúp thế hệ trẻ hiểu về cội nguồn, nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chính sách tiếp sức duy trì các lớp học
Theo Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh An Giang Danh Phúc, sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, tỉnh có gần 5 triệu dân, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số hơn 472.000 người, chiếm khoảng 9,53% dân số toàn tỉnh, riêng đồng bào Khmer có hơn 399.000 người.
Hằng năm, vào dịp hè, hầu hết các chùa Nam tông Khmer trên địa bàn tỉnh đều mở lớp dạy chữ Khmer, thu hút hàng chục nghìn học sinh và chư tăng theo học. Các lớp học này chủ yếu do các vị sư và Achar (người có uy tín trong vùng đồng bào Khmer) thông thạo tiếng Khmer và có trình độ, kiến thức về văn hóa, phong tục tập quán dân tộc Khmer phụ trách giảng dạy.
"Việc mở lớp dạy chữ Khmer trong dịp hè không chỉ góp phần gìn giữ tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer trong cộng đồng mà còn góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, xây dựng cộng đồng đoàn kết, phát triển bền vững", ông Phúc nhấn mạnh.
Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh cũng cho biết, theo Nghị quyết số 13/2024/NQ-HĐND ngày 22/7/2024 của HĐND tỉnh Kiên Giang (cũ), được HĐND tỉnh An Giang tiếp tục áp dụng sau khi hợp nhất hai tỉnh, người trực tiếp giảng dạy chữ Khmer được hỗ trợ 30.000 đồng/tiết, tối đa 24 tiết/tuần và không quá 10 tuần/năm. Khoản hỗ trợ tuy không lớn nhưng thể hiện sự quan tâm của tỉnh, đồng thời tiếp thêm động lực để các lớp học chữ Khmer tiếp tục được duy trì.
Ngày 29/6/2026, tại Kỳ họp thứ 3 (kỳ họp chuyên đề), HĐND tỉnh An Giang khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ người dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số tại các cơ sở tôn giáo và các điểm dạy tiếng nói, chữ viết do cộng đồng tổ chức trên địa bàn tỉnh.
"Nghị quyết quy định mức hỗ trợ phù hợp hơn sẽ giúp đội ngũ giáo viên, chư tăng trực tiếp giảng dạy yên tâm đứng lớp, duy trì và nâng cao chất lượng các lớp học, thu hút nhiều học viên tham gia hơn, góp phần gìn giữ tiếng nói, chữ viết cũng như bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc", ông Danh Phúc cho biết thêm.
Việc dạy chữ tại các chùa Nam tông Khmer trong tỉnh là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số, giúp các thế hệ sau hiểu hơn về cội nguồn và bản sắc dân tộc, từ đó chung tay gìn giữ, phát huy các giá trị truyền thống, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn