Lớp dạy chữ Khmer góp phần gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc

Hơn 20 năm qua, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer tại An Giang đều mở lớp dạy chữ Khmer miễn phí cho con em đồng bào. Không chỉ truyền dạy tiếng nói, chữ viết, những lớp học đặc biệt này còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, bồi đắp đạo đức, lối sống và tình yêu cội nguồn cho thế hệ trẻ.

Giữ gìn tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa

Chùa Sóc Xoài (xã Hòn Đất) là một trong những ngôi chùa Nam tông Khmer duy trì nhiều lớp dạy chữ Khmer miễn phí nhất tại An Giang. Đại đức Danh Minh, Phó trụ trì chùa Sóc Xoài cho biết, dịp hè 2026, chùa mở 8 lớp với khoảng 250 học sinh và tăng sinh từ 6-14 tuổi theo học. Bên cạnh việc dạy đọc, viết tiếng Khmer, các vị sư còn lồng ghép giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, phong tục, tập quán và những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ.

Em Danh Hùng (13 tuổi) đã có ba mùa hè học chữ Khmer tại chùa Sóc Xoài cho biết, hiện em đã đọc, viết thành thạo những câu chữ thông dụng và hiểu hơn về truyền thống dân tộc mình. Theo Hùng, năm nay em vào lớp 6 Trường Trung học cơ sở Sóc Xoài - nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống. Việc học tiếng Khmer không chỉ giúp em thuận lợi hơn trong giao tiếp mà còn hiểu thêm về lễ nghĩa, truyền thống văn hóa dân tộc.

Theo Hòa thượng Danh Đổng, Chủ tịch Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh An Giang, hè năm 2026, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trên địa bàn tỉnh mở 461 lớp dạy chữ Khmer từ lớp 1 đến lớp 5, thu hút gần 13.000 học sinh và chư tăng tham gia. Việc dạy chữ luôn gắn với truyền dạy phong tục, nghi lễ, đạo đức và văn hóa truyền thống, góp phần giúp thế hệ trẻ hiểu về cội nguồn, nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chính sách tiếp sức duy trì các lớp học

Theo Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh An Giang Danh Phúc, sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, tỉnh có gần 5 triệu dân, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số hơn 472.000 người, chiếm khoảng 9,53% dân số toàn tỉnh, riêng đồng bào Khmer có hơn 399.000 người.

Hằng năm, vào dịp hè, hầu hết các chùa Nam tông Khmer trên địa bàn tỉnh đều mở lớp dạy chữ Khmer, thu hút hàng chục nghìn học sinh và chư tăng theo học. Các lớp học này chủ yếu do các vị sư và Achar (người có uy tín trong vùng đồng bào Khmer) thông thạo tiếng Khmer và có trình độ, kiến thức về văn hóa, phong tục tập quán dân tộc Khmer phụ trách giảng dạy.

"Việc mở lớp dạy chữ Khmer trong dịp hè không chỉ góp phần gìn giữ tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer trong cộng đồng mà còn góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, xây dựng cộng đồng đoàn kết, phát triển bền vững", ông Phúc nhấn mạnh.

Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh cũng cho biết, theo Nghị quyết số 13/2024/NQ-HĐND ngày 22/7/2024 của HĐND tỉnh Kiên Giang (cũ), được HĐND tỉnh An Giang tiếp tục áp dụng sau khi hợp nhất hai tỉnh, người trực tiếp giảng dạy chữ Khmer được hỗ trợ 30.000 đồng/tiết, tối đa 24 tiết/tuần và không quá 10 tuần/năm. Khoản hỗ trợ tuy không lớn nhưng thể hiện sự quan tâm của tỉnh, đồng thời tiếp thêm động lực để các lớp học chữ Khmer tiếp tục được duy trì.

Ngày 29/6/2026, tại Kỳ họp thứ 3 (kỳ họp chuyên đề), HĐND tỉnh An Giang khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ người dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số tại các cơ sở tôn giáo và các điểm dạy tiếng nói, chữ viết do cộng đồng tổ chức trên địa bàn tỉnh.

"Nghị quyết quy định mức hỗ trợ phù hợp hơn sẽ giúp đội ngũ giáo viên, chư tăng trực tiếp giảng dạy yên tâm đứng lớp, duy trì và nâng cao chất lượng các lớp học, thu hút nhiều học viên tham gia hơn, góp phần gìn giữ tiếng nói, chữ viết cũng như bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc", ông Danh Phúc cho biết thêm.

Việc dạy chữ tại các chùa Nam tông Khmer trong tỉnh là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số, giúp các thế hệ sau hiểu hơn về cội nguồn và bản sắc dân tộc, từ đó chung tay gìn giữ, phát huy các giá trị truyền thống, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp./.​

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Mùa Na vùng núi đá Lạng Sơn

Mùa Na vùng núi đá Lạng Sơn

Những ngày giữa tháng 8, trên các triền núi đá ở các xã Chi Lăng và Cai Kinh của tỉnh Lạng Sơn, không khí thu hoạch na diễn ra khẩn trương và tất bật. Xen giữa nhịp thu hoạch là công việc chăm sóc các diện tích na gối vụ, tạo nền tảng cho những lứa quả tiếp theo và hướng tới nâng cao giá trị cây na trên vùng núi đá.

Na núi đá – sinh kế trên vùng đất khó

Na núi đá – sinh kế trên vùng đất khó

Từ những khe đá khô cằn, cây na đã bén rễ và trở thành sinh kế của nhiều hộ dân phường Hà Giang 2, tỉnh Tuyên Quang. Sau hơn 30 năm, vùng na phát triển gần 60 ha, mang lại giá trị hàng chục tỷ đồng mỗi năm, đồng thời mở hướng liên kết sản xuất, tiêu thụ và du lịch nông nghiệp.

Phát huy giá trị văn hóa bản địa, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm OCOP

Phát huy giá trị văn hóa bản địa, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm OCOP

Trong giai đoạn 2026 - 2030, Tuyên Quang đặt mục tiêu có trên 450 sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) còn hiệu lực chứng nhận đạt từ 3 sao trở lên; phát triển mới khoảng 150 sản phẩm OCOP; trong đó, mỗi xã, phường có từ 1 - 3 sản phẩm mới được chứng nhận đạt từ 3 sao trở lên; có từ 5 sản phẩm OCOP đạt hạng 5 sao và tối thiểu 15% số sản phẩm OCOP còn hiệu lực được nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao.

Nỗ lực tìm đầu ra cho chè Liên Sơn

Nỗ lực tìm đầu ra cho chè Liên Sơn

Gần 500 ha chè, phần lớn là giống chất lượng cao, đang là nguồn sinh kế của hàng trăm hộ dân xã Liên Sơn, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, thiếu cơ sở thu mua, chế biến khiến đầu ra bấp bênh. Địa phương đang nỗ lực thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết sản xuất, tiêu thụ, giúp người dân ổn định thu nhập và gắn bó với cây chè.

Khẩn trương khắc phục điểm sạt lở lớn trên Quốc lộ 24

Khẩn trương khắc phục điểm sạt lở lớn trên Quốc lộ 24

Do ảnh hưởng của mùa mưa bão năm 2025, nhiều vị trí xung yếu trên tuyến Quốc lộ 24 nối phía Đông và phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bị sạt lở nghiêm trọng. Đến nay, phần lớn các vị trí đã được lực lượng chức năng xử lý, khắc phục, song tại vị trí Km 112 + 100 đến Km 112 + 200, do khối lượng đất đá lớn, công tác khắc phục vẫn đang được gấp rút triển khai trước mùa mưa bão năm 2026.

Mở ra chặng đường mới cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao

Mở ra chặng đường mới cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao

Sau gần một năm thi công, công trình Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Lóng Phiêng - một trong 13 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới của tỉnh Sơn La được đầu tư xây dựng theo chủ trương của Đảng đã đạt trên 97% khối lượng. Gần 200 công nhân đang khẩn trương hoàn thiện các công đoạn cuối cùng để công trình sớm đưa vào sử dụng.

Cần sớm hoàn thành khu tái định cư Suối Lóp để người dân ổn định cuộc sống

Cần sớm hoàn thành khu tái định cư Suối Lóp để người dân ổn định cuộc sống

Ảnh hưởng từ nhiều đợt mưa lũ gây sạt lở taluy ở thôn Kang Kỷ, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai khiến hơn 70 hộ dân cần phải di dời chỗ ở. Để đảm bảo an toàn cho người dân, tỉnh Lào Cai đã lập Dự án di dân khẩn cấp thôn Suối Lóp, thế nhưng đến nay dự án vẫn dang dở thi công khiến bà con chưa thể di chuyển đến nơi ở mới để làm nhà, ổn định cuộc sống.

Hơn 3.000 người chạy đua với thời gian xây trường vùng biên

Hơn 3.000 người chạy đua với thời gian xây trường vùng biên

Những ngày giữa tháng 8, tại 6 công trường xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp ở khu vực biên giới thành phố Đà Nẵng, nhịp thi công đang được đẩy lên cao. Hơn 3.000 cán bộ, công nhân, bộ đội, dân quân cùng hàng trăm máy móc, thiết bị được huy động, tổ chức thi công đồng loạt, nhiều hạng mục làm việc theo ca, tranh thủ cả ngày và đêm, với mục tiêu đưa những ngôi trường mới sớm hoàn thiện, phục vụ học sinh vùng biên trong năm học 2026-2027.

 'Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự tuyến biên giới'

'Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự tuyến biên giới'

Ngày 16/8, mô hình “Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự tuyến biên giới” đã ra mắt với 11 tổ tại xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) nhằm gắn nhiệm vụ bảo vệ rừng với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, phát huy vai trò tự quản, tự phòng, tự bảo vệ của cộng đồng dân cư.

Khám mắt và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân vùng biên

Khám mắt và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân vùng biên

Ngày 16/8, tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, các y bác sĩ Bệnh viện Mắt Hà Nội - Đồng Nai phối hợp với UBND xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) tổ chức khám các bệnh lý về mắt và cấp phát thuốc miễn phí cho hàng trăm người dân vùng biên giới.

Đồng bào vùng cao làm giàu từ nuôi ngựa

Đồng bào vùng cao làm giàu từ nuôi ngựa

Nuôi ngựa là hướng đi mới giúp nhiều gia đình thoát nghèo vươn lên làm giàu ở Lạng Sơn. Từ nuôi ngựa, một số gia đình đã có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Đà Nẵng đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hai trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới

Đà Nẵng đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hai trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới

Ưu tiên hoàn thành những hạng mục trực tiếp phục vụ khai giảng, tổ chức thi công liên tục, đồng bộ, bảo đảm chất lượng và tiến độ- Đó là yêu cầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng khi kiểm tra tiến độ thi công Dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở La Êê và La Dêê vào ngày 15/8.

Tiềm ẩn nguy cơ sạt lở ở các xã miền núi Nghệ An

Tiềm ẩn nguy cơ sạt lở ở các xã miền núi Nghệ An

Miền núi phía Tây Nghệ An có địa hình chủ yếu là đồi núi, cao dần về phía Tây và Tây Bắc, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao cùng hệ thống sông, suối dày đặc. Đặc điểm địa hình này khiến khu vực thường chịu tác động lớn của mưa lớn, lũ ống, lũ quét và sạt lở đất đá trong mùa mưa bão, gây thiệt hại về người, nhà cửa, tài sản và hạ tầng giao thông.

Bàn giao 876 mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN

Bàn giao 876 mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN

Ngày 14/8, Ban Chỉ đạo về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tỉnh Điện Biên bàn giao 876 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ chưa xác định được danh tính cho Viện Pháp y Quân đội, Cục Quân y, Bộ Quốc phòng để phục vụ giám định ADN xác định danh tính liệt sĩ.

Tinh gọn bộ máy: Từng bước thích ứng với yêu cầu mới

Tinh gọn bộ máy: Từng bước thích ứng với yêu cầu mới

Sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, xã miền núi Minh Đài, tỉnh Phú Thọ đã từng bước ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động quản lý Nhà nước thông suốt, không để gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công.

Tạo nền tảng thế trận lòng dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Tạo nền tảng thế trận lòng dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Sau khi hợp nhất địa giới hành chính, Tây Ninh tiếp tục củng cố thế trận biên phòng toàn dân bằng việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Bộ đội Biên phòng giúp nhân dân xã biên giới Sì Lở Lầu trồng sâm Lai Châu

Bộ đội Biên phòng giúp nhân dân xã biên giới Sì Lở Lầu trồng sâm Lai Châu

Trong những năm qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ làm tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới mà còn luôn đồng hành hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào các dân tộc qua các mô hình phát triển nông nghiệp như: Trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Đặc biệt gần đây, lực lượng Biên phòng đã lựa chọn đưa cây sâm Lai Châu vào trồng tại bản Ngải Thầu, xã biên giới Sì Lở Lầu để tạo sinh kế cho người dân do phù hợp về thổ nhưỡng, khí hậu, đồng thời cũng đúng với định hướng phát triển cây dược liệu của tỉnh Lai Châu.

Xuất khẩu lao động giúp người dân miền núi Thanh Hóa giảm nghèo

Xuất khẩu lao động giúp người dân miền núi Thanh Hóa giảm nghèo

Nhiều năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã đẩy mạnh việc đưa người lao động của các xã miền núi đi làm việc ở nước ngoài. Nhiều người sau khi trở về đã có số vốn lớn để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từ các thôn bản nghèo đang còn nhà cửa đơn sơ, tới nay đã xuất hiện nhiều ngôi nhà kiên cố, đời sống người dân đã ổn định hơn trước.

Bứt phá tiến độ, hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố nơi biên cương

Bứt phá tiến độ, hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố nơi biên cương

Nằm trong đại dự án 21 trường liên cấp với tổng mức đầu tư hơn 7.700 tỷ đồng, 10 công trình giai đoạn 1 tại các xã biên giới Nghệ An đang bước vào chặng nước rút quyết định. Dù đối mặt với vô vàn áp lực từ thời tiết khắc nghiệt đến điều chỉnh kỹ thuật do sạt lở, các mũi thi công vẫn căng mình bám công trường, đưa 9/10 dự án giai đoạn 1 đạt mốc 80-90% khối lượng. Sự đồng lòng ấy đang hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố, kịp thời đón các em nhỏ dân tộc thiểu số vào lớp đúng ngày khai giảng.

Định hướng phát triển dâu tằm tơ thành ngành kinh tế chủ lực

Định hướng phát triển dâu tằm tơ thành ngành kinh tế chủ lực

Trong chiến lược phát triển nông nghiệp, Cao Bằng xác định nghề trồng dâu, nuôi tằm là một hướng đi tiềm năng, có thể tạo sinh kế bền vững cho người dân và nâng cao giá trị kinh tế địa phương. Hiện toàn tỉnh có 31 xã, phường tham gia sản xuất với hơn 2.700 hộ, diện tích dâu hơn 1.200 ha, sản lượng kén đạt khoảng 829 tấn/năm. Có thể nói, Cao Bằng rất có tiềm năng để phát triển trồng dâu nuôi tằm, tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu mới dừng ở khâu nguyên liệu, tiêu thụ qua thương lái, chưa có nhà máy chế biến sâu để hoàn thiện chuỗi giá trị.

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 2: Để vị ngọt sầu riêng đi tiếp trăm năm

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 2: Để vị ngọt sầu riêng đi tiếp trăm năm

Lập kỷ lục 3,86 tỷ USD trong năm 2025, sầu riêng tiếp tục dẫn đầu nhóm rau quả xuất khẩu của Việt Nam; riêng Đắk Lắk đóng góp khoảng 1,1 tỷ USD. Bảy tháng của năm 2026, cả nước đã xuất khẩu 493.000 tấn, thu về 950,7 triệu USD. Bước vào cao điểm thu hoạch tại Tây Nguyên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định kim ngạch cả năm chắc chắn vượt 4 tỷ USD.