Nét duyên người Lự

Nét duyên người Lự
Người Lự (còn gọi là Lào Lự, người Lữ, người Nhuồn, người Duồn) là một dân tộc ít người trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Việt Nam. Mấy năm gần đây một số bản làng của người Lự ở tỉnh Lai Châu đã trở thành điểm du lịch văn hóa sinh thái hấp dẫn du khách quốc tế.
Theo số lượng mới thống kê gần đây, cả nước chỉ có khoảng 5.500 người Lự và họ sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng cao thuộc các huyện Phong Thổ, Tân Uyên (Lai Châu).

Người Lự biết làm ruộng nước từ lâu đời và còn làm thêm nương rẫy để trồng ngô, khoai, sắn. Nghề trồng bông dệt vải phát triển ở hầu hết gia đình người Lự.
Bình yên bản Nà Tăm
Bình yên bản Nà Tăm

Phụ nữ Lự có bàn tay thêu thùa khéo léo, may, dệt trang phục cho cả gia đình; nhất là váy, áo, khăn của thiếu nữ về nhà chồng trong ngày hôn lễ được thêu hoa văn thổ cẩm trang trí trên nền vải nhuộm chàm rất đẹp. Họ mặc áo chàm, xẻ ngực; váy may bằng vải chàm đen, có thêu hoa văn thổ cẩm thành hai phần trang trí do vậy thoáng nhìn cảm giác như chiếc váy có hai tầng vải ghép lại.

Thiếu nữ Lự đeo vòng cổ trang sức làm bằng bạc chạm khắc rất tinh xảo và khăn đội đầu được cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường viền thêu hoa văn thổ cẩm đẹp mắt.
 
Nhà sàn đặc trưng của người Lự Qua suối Trong bản giờ chỉ những người trên 35 tuổi mới nhuộm răng đen Lễ cơm mới của người Lự Phụ nữ Lự giặt giũ bên bờ suối - Ảnh: Ngọc Bằng
Nhà sàn đặc trưng của người Lự
 
Nét duyên người Lự ảnh 3
Qua suối 
 
Nhà sàn đặc trưng của người Lự Qua suối Trong bản giờ chỉ những người trên 35 tuổi mới nhuộm răng đen Lễ cơm mới của người Lự Phụ nữ Lự giặt giũ bên bờ suối - Ảnh: Ngọc Bằng
Trong bản giờ chỉ những người trên 35 tuổi mới nhuộm răng đen
 
Nhà sàn đặc trưng của người Lự Qua suối Trong bản giờ chỉ những người trên 35 tuổi mới nhuộm răng đen Lễ cơm mới của người Lự Phụ nữ Lự giặt giũ bên bờ suối - Ảnh: Ngọc Bằng
Lễ cơm mới của người Lự
 
Nét duyên người Lự ảnh 6
Phụ nữ Lự giặt giũ bên bờ suối - Ảnh: Ngọc Bằng

Người dân tộc Lự sống có trước có sau, đặc biệt vợ chồng rất thủy chung với nhau. Nếu vì lý do nào đó mà vợ chồng phải ly dị thì họ sẽ bị dòng họ và dân làng phạt rất nặng.

Người Lự rất thích hát dân ca của dân tộc mình, say sưa chơi các loại nhạc cụ truyền thống như sáo, nhị, trống trong các ngày lễ, ngày hội của bản làng. Bên cạnh đó, nhiều trò chơi dân gian được thanh niên ưa thích như ném én, kéo co.

Nét độc đáo nhất của phụ nữ Lự là phong tục nhuộm răng đen có điểm xuyết một vài chiếc răng bằng vàng giả trông khá lạ mắt. Phong tục nhuộm răng đen đang bị mai một vì lớp trẻ của người Lào Lự giờ không thích nhuộm răng đen. Bây giờ tìm trong bản những người nhuộm răng đen chỉ là phụ nữ có tuổi đời từ 35 trở lên.

Theo truyền thống, người Lự sinh sống ở nhà sàn, nhà có hai mái, mái phía sau ngắn còn mái phía trước kéo dài xuống che cả hàng hiên và cầu thang lên xuống. Cửa ra vào của nhà ở chính mở theo hướng tây bắc. Trong nhà có hai bếp lửa, một bếp để nấu ăn cho gia đình hằng ngày và một bếp để đun nước tiếp khách khi tới thăm nhà.

Nét đặc biệt của người Lự là rất quý khách tới thăm nhà và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách chụp ảnh, tìm hiểu phong tục tập quán nhưng không đòi hỏi thù lao như những nơi khác.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn
Dân tộc Lự

Tên tự gọi: Lừ, Thay hoặc Thay Lừ.

Tên gọi khác: Phù Lừ, Nhuồn, Duồn.

Nhóm địa phương: Ở Việt Nam chỉ có nhóm Lự Ðen (Lừ Ðăm) ở xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu), phân biệt nhóm Lự Trắng (Lừ Khao) ở Síp Song Păn Na (Trung Quốc).

Dân số: 5.601 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) ít nhất cũng trước thế kỷ XI - XII. Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiều ruộng đồng. Vào thế kỷ chiến tranh người Lự phải phân tán đi khắp nơi, một bộ phận nhỏ chạy lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ, Sìn Hồ.

Hoạt động sản xuất: Người Lự sáng tạo ra hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thuỷ nhập điền. Ruộng trồng lúa nếp theo kỹ thuật cấy mạ hai lần. Có nơi đã biết dùng phân xanh, rác rưởi và phân chuồng để bón ruộng. Họ làm nương phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày do tiếp thu từ người Mông. Nghề dệt phát triển. Dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa văn đẹp. Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng. Hái lượm, săn bắt, đặc biệt đánh cá ở suối là hoạt động thường xuyên.

Ăn: Người Lự ăn xôi, ưa thích các món chế biến từ cá, trong đó có món nộm chua với thịt cá tươi. Lợn, trâu, bò chỉ mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán.

Mặc: Nữ mặc áo chàm, xẻ ngực. Váy nữ bằng vải chàm đen, có thêu dệt thành hai phần trang trí, dễ cảm giác như váy có hai tầng ghép lại. Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc. Ðầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc. Nhuộm răng đen. Ðeo vòng tay bằng bạc, bằng đồng.

Nam mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen. Ðàn ông thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là tập quán trang trí.

Ở: Người Lự cư trú ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ, Ðiện Biên (Lai Châu). Nhà sàn 4 mái, mái kéo dài che làm hiên sàn nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm ra vải. Trong nhà có chăn, đệm, màn, rèm; bếp ở giữa nhà.

Phương tiện vận chuyển: Gùi, trâu kéo, ngựa thồ.

Quan hệ xã hội: Quan hệ láng giềng là chủ đạo. Họ theo tập quán tương trợ giữa các gia đình trong lao động sản xuất, khi làm nhà mới, cưới xin ma chay.

Hai họ - Pu Da (nội) và Ta Nai (ngoại) là quan trọng nhất.

Cưới xin: Người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều với câu tục ngữ "dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ". Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục ở rể 3 năm sau đó về làm dâu 2 năm thì đôi vợ chồng được phép ra ở riêng để thành đơn vị gia đình hạt nhân sống trong nếp nhà sàn riêng của mình. Có ba bước cưới xin:

+ "Ăn giáp tối": lễ nhập phòng.

+ "Ăn mới": tổ chức ăn uống và nhà trai dâng lễ vật cho nhà gái trong đó phải có một thanh gươm.

+ "Ðón dâu".

Sinh đẻ: Khi đầy tháng nhờ ông máy đem bút vót bằng cây guột và một mảnh vải trắng đĩa mực tàu đến bói và tìm tên cho trẻ nhỏ. Ðặt trứng gà lên bát gạo, ông máy gieo hạt gạo lên trông trứng xem chẵn, lẻ. Nếu ứng đúng như ông xướng thì lấy tên đó đặt cho trẻ và ghi tên vào mảnh vải rồi trao lại cho bố mẹ giữ lấy làm khai sinh. Nữ thường có tên là Kẻo (Ngọc) và nam là Khăm (Vàng)...

Ma chay: Khi có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang. Mổ một trâu đen (không trắng) để cúng tiễn hồn về cõi hư vô. Quàn thi thể ở nhà 3 ngày rồi thuê 8 người ngoài họ để khiêng ra rừng ma. Chôn không đắp thành mồ. Những người đi đưa đám trước khi lên nhà phải tắm rửa sạch sẽ. Bà con gần gũi thuộc họ nội của người chết phải kiêng 3 ngày không lao động sản xuất.

Nhà mới: Kiêng không làm lễ lên nhà mới vào giữa trưa. Sau khi quét sạch nhà, mời 4 cụ già ngoài họ đến uống rượu quanh một cái chậu có 4 chén rượu đặt ở giữa nhà. Một chàng trai trẻ đến bên cửa ra vào, ngồi xổm và cất tiếng xin mua nhà, các cụ đang uống rượu đáp: "chủ nhà sắp đến nhận rồi". Vợ chồng chủ nhà đã đứng sẵn ở chân cầu thang. Chồng mang một cái chài trên vai, vợ gánh một bên là kiềng và một bên là chõ xôi; chồng trước, vợ theo sau leo lên cầu thang, đặt đồ vào nhà. Tiếp theo, hai thiếu nữ thắp hai bó đuốc bước lên nhà. Một cô khác ở đầu cầu thang cầm ống nước để dập tắt lửa cháy ở bó đuốc đi đầu. Người thứ hai, cầm bó đuốc vẫn cháy sáng, đưa đến nhóm lửa ở bếp. Ngọn lửa phải giữ cho cháy suốt 3 ngày 3 đêm. Chủ nhà làm lễ thờ tổ tiên bằng cỗ đầu lợn. Dân bản được mời ăn cỗ uống rượu, mọi người vui hát theo điệu sáo đôi.

Thờ cúng: Người Lự thờ cúng tổ tiên ở gian "hóng" trong nhà, mỗi năm một lần vào tháng giêng theo lịch Lự, tương đương với tháng 10 âm lịch; thắp thêm 10 ngọn nến sáp ong ở quanh mâm cỗ. Ông "chủ đầu" (chảu hô) đọc bài cúng. Vào tháng giêng có lễ cúng bản gọi là "kiêng bản" (căm bản) với mâm cỗ 3 yến lợn đều cúng dựng ở đầu bản và cạnh sông, suối. Vào tháng 3 mồng 3 có lễ cúng ở khu "rừng thiêng" (đóng căm) với mâm cỗ 3 yến lợn và cũng như thế, tháng 6 mồng 6 với mâm cỗ 6 yến lợn. Sau khi "chủ đầu" làm lễ xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi và kiêng nội bất xuất, ngoại bất nhập từ 3 đến 9 ngày gọi chung là "kiêng bản kiêng mường".

Lễ tết: Cách đương đại 3 thế hệ về trước, khoảng 60-70 năm, người Lự còn thực hiện những nghi lễ Phật giáo gọi là bun như: lễ mừng năm mới (bun pi mày) vào tháng giêng; lễ té nước (bun huất nặm) vào tháng11, tháng 12 và lễ thả ống pháo sáng (bun bẳng phay) vào tháng 2, 3 theo âm lịch Lự.

Lịch: Có lịch riêng - tháng giêng là tháng10 âm lịch.

Học: Người Lự có sử dụng chữ theo mẫu tự Pali. Người ta lấy gai hoặc que sắt nhọn làm bút viết trên lá cọ rừng ghi nhiều loại truyện thần thoại, cổ tích. Cũng có thể vỏ cây guột khô, vót nhọn, chấm mực tàu viết trên miếng vải trắng. Xưa kia, trẻ 7-8 tuổi có tập quán đến học chữ của ông "chẩu hua" (sư).

Văn nghệ: Hát Lự (Khắp Lử) là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Theo lối hát này (ỉn khống). Xưa, vào lúc màn đêm buông xuống, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói trải giữa sân say sưa hát, thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm.

Chơi: Người Lự có các trò chơi kéo co, ném én. Nam thanh niên thích múa gươm.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Lự

Có thể bạn quan tâm

Bạn bè quốc tế trải nghiệm văn hóa Việt

Bạn bè quốc tế trải nghiệm văn hóa Việt

Trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai năm 2026, ngày 2/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phối hợp với Ban Tổ chức Lễ hội tổ chức chương trình đón tiếp đoàn đại biểu quốc tế tham quan, trải nghiệm tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội).

Du khách quốc tế trải nghiệm sắc màu văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Du khách quốc tế trải nghiệm sắc màu văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Với thông điệp tôn vinh sự đa dạng văn hóa và tăng cường kết nối giữa các cộng đồng, chương trình tham quan, trải nghiệm tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam là một hoạt động thiết thực trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phối hợp với Ban Tổ chức chương trình tổ chức.

Tết Khẩu Hó mừng lúa mới vùng biên

Tết Khẩu Hó mừng lúa mới vùng biên

Khi những thửa ruộng bước vào mùa lúa chín, đồng bào dân tộc Lào ở xã biên giới Mường Nhà, tỉnh Điện Biên lại đón Tết Khẩu Hó – Tết mừng lúa mới. 

Lễ cầu an của người Ba Na gửi gắm ước vọng bình yên, no đủ

Lễ cầu an của người Ba Na gửi gắm ước vọng bình yên, no đủ

Lễ cầu an của đồng bào Ba Na ở Tây Nguyên là nghi lễ truyền thống, gửi gắm mong ước về sức khỏe, bình yên, mùa màng bội thu. Được gìn giữ qua nhiều thế hệ, lễ hội còn là dịp gắn kết cộng đồng, trao truyền phong tục, cồng chiêng, điệu xoang và giá trị văn hóa đặc sắc.

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Lễ hội “Ăn mừng lúa mới” của đồng bào Giẻ Triêng tại xã Phước Chánh được tái hiện trang trọng, thể hiện lòng biết ơn Giàng và các vị thần linh. Đây còn là dịp cộng đồng sum họp, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống.

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Mang trong mình âm vang của cồng chiêng và tiếng đàn môi trầm bổng, những người có uy tín ở các xã miền núi Quảng Ngãi đang từng ngày lặng lẽ “giữ hồn” văn hóa Hre. Họ chính là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại, đưa âm nhạc truyền thống sống mãi giữa đại ngàn.

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Lư Thị Súng, bác sĩ người Mông (Tuyên Quang), lớn lên trong gia đình cận nghèo, từng vượt nhiều chặng đường đèo, những trở ngại về quan niệm, hủ tục... để đến trường, nỗ lực học tập trở thành bác sĩ. Sau nhiều năm học tập xa quê, chị trở về Mèo Vạc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, góp phần vào những đổi thay trong diện mạo của quê hương.

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Ngày 13/9, tại sân đua bò Chùa Rô (xã An Cư, tỉnh An Giang), UBND xã An Cư, Ban Quản trị Chùa Rô phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (VTV Nam Bộ) tổ chức Hội đua bò truyền thống Chùa Rô lần thứ XII năm 2026.

Tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống trong lễ cơm mới của người Thái

Tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống trong lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.