Người gieo kỹ năng số trên những bản làng vùng cao

Khởi đầu từ việc livestream giải cứu nông sản trong dịch COVID-19, Ma Thị Chú từng bước biến điện thoại thông minh thành công cụ kết nối thị trường cho đồng bào.

Không giữ kinh nghiệm cho riêng mình, cô gái người Mông mở những lớp học miễn phí từ 4 giờ 30 phút sáng, hướng dẫn người dân làm nội dung, bán hàng trực tuyến và xây dựng thương hiệu từ chính văn hóa bản địa, với mong muốn người trẻ có thể làm giàu ngay trên quê hương.

baotintuc_tr_ban.jpg
Ma Thị Chú giới thiệu câu chuyện phía sau mỗi sản phẩm, qua đó tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng trên không gian số.

Từ một nhân viên y tế, cơ duyên nào đưa chị trở về với nông sản và bắt đầu ứng dụng công nghệ số để bán hàng?

Tôi sinh năm 1991, lớn lên tại vùng cao Mường Khương (Lào Cai) trong một gia đình từng có hoàn cảnh khó khăn. Từ nhỏ, tôi đã theo mẹ đi bán thổ cẩm. Chính mẹ giúp tôi hiểu rằng khi người phụ nữ có thu nhập và tự chủ về kinh tế, họ sẽ tự tin hơn, có tiếng nói hơn trong gia đình và chủ động trước những biến cố của cuộc sống.

Năm học lớp 7, tôi bắt đầu phụ mẹ bán hàng. Sau đó, mẹ cho tôi tự buôn bán để có tiền trang trải việc học. Dù từng học trung cấp y và làm việc tại bệnh viện khoảng một năm, tôi nhận ra đó không phải công việc phù hợp với đam mê của mình. Tôi quyết định nghỉ việc, quay lại kinh doanh thổ cẩm tại các điểm du lịch, sau đó mở rộng sang nông sản.

baotintuc_tr_chichu.jpg
Những năm qua, Ma Thị Chú đã hướng dẫn khoảng 500 phụ nữ dân tộc thiểu số kỹ năng bán hàng và quảng bá sản phẩm trên nền tảng số.

Khoảng năm 2018 - 2019, nhận thấy nhu cầu thu mua chuối tăng cao, tôi bắt đầu kết nối nguồn hàng, liên kết với bà con thành lập hợp tác xã trồng chuối, sản xuất cây giống và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, tôi gắn bó sâu hơn với nông nghiệp. Mùa nào có sản phẩm ấy, từ chuối, quýt, mận đến lê, hồng giòn, tôi đều tìm cách kết nối đầu ra.

Bước ngoặt lớn nhất đến vào năm 2020, khi dịch COVID-19 khiến việc vận chuyển và tiêu thụ nông sản bị đình trệ. Nông sản đến kỳ thu hoạch nhưng thương lái không thể vào mua. Nhìn lê, quýt, mận mà bà con chăm sóc cả năm có nguy cơ hư hỏng, tôi rất xót xa. Tôi bắt đầu tìm hiểu Internet, đưa sản phẩm lên mạng xã hội và livestream trực tiếp tại vườn.

Ban đầu, tôi tự học mọi thứ, từ quay hình, viết nội dung, giới thiệu sản phẩm đến trả lời khách và ghi đơn. Tôi nhận ra người mua không chỉ muốn biết giá mà còn quan tâm sản phẩm được trồng ở đâu, thu hoạch thế nào và ai là người làm ra nó. Vì vậy, tôi đưa khách hàng đến gần nương rẫy bằng hình ảnh thật, câu chuyện thật.

Có những phiên livestream kéo dài từ một đến hai giờ, chúng tôi tiêu thụ được khoảng 2-3 tấn lê. Chiếc điện thoại đã giúp một khu vườn ở vùng cao kết nối trực tiếp với người mua tại nhiều tỉnh, thành. Công nghệ số từ đó không còn là khái niệm xa lạ, mà trở thành công cụ giúp bà con bán hàng, hạn chế phụ thuộc vào một vài thương lái và chủ động hơn trước thị trường.

Điều gì khiến chị quyết định mở những lớp học công nghệ miễn phí cho đồng bào, thậm chí bắt đầu từ lúc 4 giờ 30 phút sáng?

Sau Tết Nguyên đán năm 2025, tôi chứng kiến từng đoàn người trong bản rời quê đi làm thuê. Có người sang bên kia biên giới, có người về các khu công nghiệp ở miền Trung, miền Nam. Bản làng khi ấy chủ yếu còn lại người già và trẻ nhỏ. Trẻ con ốm, người già đau nhưng thiếu người chăm sóc; nhiều ngôi nhà trở nên vắng lặng.

baotintuc_tr_chichu-7836.jpg
Ma Thị Chú giới thiệu câu chuyện phía sau mỗi sản phẩm, qua đó tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng trên không gian số.

Tôi rất đau lòng khi thấy những thanh niên khỏe mạnh, có năng khiếu nhưng phải đi xa, bán sức lao động để đổi lấy vài triệu đồng mỗi tháng. Khi còn sức khỏe, họ có thể làm việc, nhưng nếu chỉ phụ thuộc vào lao động chân tay thì tương lai rất bấp bênh. Trong khi đó, quê hương có nông sản, cảnh đẹp, bản sắc văn hóa và rất nhiều câu chuyện có giá trị.

Tôi từng có cơ hội thay đổi công việc nhờ biết dùng điện thoại và mạng xã hội, nên hiểu rằng nếu đồng bào được trang bị kỹ năng, họ hoàn toàn có thể tạo thu nhập ngay tại quê hương. Vì vậy, tôi quyết định mang toàn bộ kinh nghiệm tích lũy sau nhiều năm livestream, bán hàng và xây dựng nội dung để hướng dẫn miễn phí cho bà con.

Rào cản lớn nhất không hẳn là kỹ thuật mà là sự tự ti. Nhiều chị em nói họ không đẹp, giọng nói không hay, không biết chữ nhiều nên không thể làm nội dung. Có người còn bị chồng hoặc gia đình phản đối vì cho rằng cầm điện thoại quay video là việc không nghiêm túc.

Tôi phải giúp họ hiểu rằng khán giả không chỉ tìm kiếm những khuôn mặt đẹp hay video cầu kỳ. Công chúng quan tâm đến câu chuyện chân thật, sản phẩm tốt và nét văn hóa riêng của mỗi vùng đất. Một người phụ nữ đang dệt thổ cẩm, làm đậu phụ, hái chè hay thu hoạch lê đều có thể tạo nên nội dung giá trị nếu biết cách kể chuyện.

Để mọi người không bị vướng việc chăm con, nấu ăn hoặc lên nương, tôi chọn thời gian học từ 4 giờ 30 đến 6 giờ 30 sáng. Mỗi khóa kéo dài liên tục 21 ngày nhằm hình thành thói quen. Mỗi ngày, tôi chỉ dạy một lượng kiến thức vừa phải để học viên có thể thực hành ngay. Buổi sáng học lý thuyết, ban ngày lên nương quay hình, buổi tối làm bài tập và hôm sau được sửa bài.

Lớp học được tổ chức trực tuyến bằng tiếng phổ thông nên không bị giới hạn bởi địa lý hay dân tộc. Người Mông, Thái, Dao, Nùng, Kinh ở Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Gia Lai, Kon Tum, Cà Mau đều có thể tham gia. Thậm chí, một số bạn trẻ tại TP Hồ Chí Minh và kiều bào ở Phần Lan, Canada cũng kết nối để học kỹ năng livestream, cải thiện việc bán hàng.

Chị hướng dẫn học viên sử dụng công nghệ như thế nào để vừa bán được hàng, vừa giữ được bản sắc riêng của mỗi bản làng?

Tôi không bắt đầu bằng việc dạy mọi người chạy theo lượt xem. Bài học đầu tiên là phải xác định mình làm kênh cho ai xem, muốn chia sẻ giá trị gì và sản phẩm nào có thể giải quyết nhu cầu của khách hàng. Khi đã có định hướng, học viên mới tiếp tục học cách chọn góc quay, dựng video, viết nội dung, sử dụng các công cụ như CapCut, ChatGPT và tổ chức livestream.

baotintuc_tr_ban-hang-nong.png
Từ những phiên bán hàng trực tuyến, nhiều loại nông sản vùng cao đã tiếp cận thị trường nhanh hơn và giảm bớt khâu trung gian

Công nghệ giúp tiết kiệm thời gian nhưng không thể thay thế con người. Công cụ có thể hỗ trợ gợi ý câu chữ, cắt video hoặc tạo phụ đề, nhưng câu chuyện, cảm xúc và trải nghiệm phải thuộc về người làm nội dung. Tôi luôn nhắc học viên không sao chép máy móc và không chạy theo các hiện tượng mạng chỉ để tìm sự chú ý.

Mỗi người phải lấy chính cuộc sống và văn hóa dân tộc mình làm nền tảng. Nương rẫy, trang phục, món ăn, tiếng nói, phong tục, quá trình làm ra một sản phẩm hay câu chuyện vượt khó đều là nguồn nguyên liệu quý. Học cùng một lớp nhưng mỗi kênh phải có màu sắc riêng. Khi khán giả cảm nhận được sự chân thành và nét khác biệt, họ mới yêu mến, quay lại theo dõi và ủng hộ sản phẩm.

Từ những lớp học ban đầu khoảng 20 người, sau bốn năm tôi đã chia sẻ kinh nghiệm cho khoảng 500 phụ nữ dân tộc thiểu số. Đến nay, qua hàng chục khóa học với quy mô từ 50 - 200 học viên, số người được tiếp cận kỹ năng số đã lên tới hàng nghìn. Nhiều học viên không chỉ biết quay video mà còn hình thành kênh riêng, có sản phẩm và tạo được nguồn thu.

Chị Lò Thị Dần, một phụ nữ dân tộc Thái ở Sông Mã, Sơn La, trước đây chủ yếu làm đậu phụ. Sau khi được hướng dẫn, chị mạnh dạn xây dựng kênh, mở hộ kinh doanh thổ cẩm, đầu tư máy móc và phát triển sản phẩm khăn piêu truyền thống. Vàng Thị Mỷ ở Sơn La từng rất tự ti vì hoàn cảnh khó khăn, nhưng sau thời gian được hỗ trợ đã trở thành người làm video tích cực, truyền cảm hứng cho nhiều phụ nữ vùng cao.

Một số học viên như Lò Thị Minh Anh ở Điện Biên, Mê Dếnh ở Sơn La hay Giàng Thị Gấm ở Lào Cai đang dần trở thành những hạt nhân kết nối nông sản tại địa phương. Khi một người thành công và tiếp tục hướng dẫn những người xung quanh, kiến thức số sẽ được lan tỏa nhanh hơn đến từng thôn, bản.

Việc đưa nông sản lên mạng cũng phải gắn với chất lượng và sự trung thực. Sản phẩm giao đến khách phải đúng như nội dung đã giới thiệu. Người bán cần phân loại, đóng gói cẩn thận, công khai nguồn gốc và chịu trách nhiệm khi có vấn đề phát sinh. Nếu chỉ bán được một lần nhưng đánh mất niềm tin thì không thể hình thành thương hiệu lâu dài.

Chị kỳ vọng công nghệ số sẽ thay đổi diện mạo các bản làng vùng cao như thế nào trong những năm tới?

Tôi kỳ vọng trong khoảng 3 - 5 năm tới sẽ có hàng nghìn thanh niên dân tộc thiểu số tự tin làm chủ công nghệ, biết xây dựng nội dung và phát triển kinh tế ngay trên quê hương mình. Mỗi bản làng không nên chỉ có một người biết bán hàng trực tuyến, mà cần hình thành một đội ngũ “nông dân số” có thể liên kết, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ nhau cùng phát triển.

Khi nhiều người cùng tham gia, mỗi người có thể đảm nhận một công việc phù hợp với thế mạnh của mình. Người tập trung sản xuất nông sản, người quay và dựng video, người quản lý kênh bán hàng, người đóng gói, vận chuyển hoặc tổ chức các hoạt động du lịch trải nghiệm. Khi đó, công nghệ số không chỉ tạo thu nhập cho một cá nhân mà còn góp phần hình thành chuỗi sinh kế, tạo thêm việc làm và giữ người trẻ ở lại bản làng.

Lào Cai có nhiều loại nông sản sạch, đặc trưng và giàu giá trị. Trong đó, trà atisô phun sương là sản phẩm đáng tự hào, đã được chứng nhận OCOP 5 sao. Hiện địa phương có hơn 70 ha trồng atisô, tạo sinh kế cho trên 300 hộ gia đình. Nhờ loại cây này, nhiều hộ đã có nguồn thu ổn định hơn, có điều kiện nuôi con học đại học, mua sắm phương tiện và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống.

btt_tr_chichuemc.jpg
Theo Ma Thị Chú, sức ảnh hưởng trên mạng xã hội chỉ bền vững khi người sáng tạo nội dung giữ được sự chân thật và trách nhiệm với cộng đồng.

Tôi mong có thể đồng hành với bà con và các bạn trẻ trong việc ứng dụng công nghệ số để kể câu chuyện về cây atisô, giới thiệu quy trình trồng, chăm sóc, chế biến cũng như giá trị của sản phẩm đến đông đảo người tiêu dùng. Nếu trước đây, khi hoạt động quảng bá còn hạn chế, Lào Cai đã phát triển được hơn 70 ha atisô thì với sự hỗ trợ của các nền tảng số, vùng trồng hoàn toàn có thể được mở rộng hơn trong những năm tới, trên cơ sở bảo đảm chất lượng và đầu ra ổn định.

Khi sản phẩm được giới thiệu đúng cách, người tiêu dùng không chỉ biết đến một loại trà tốt cho sức khỏe mà còn hiểu thêm về vùng đất, con người và công sức của những hộ dân đang ngày đêm chăm sóc cây atisô. Thị trường được mở rộng sẽ tạo thêm sinh kế, nâng cao giá trị nông sản và giúp nhiều gia đình cải thiện cuộc sống.

Tôi hy vọng công nghệ số sẽ trở thành cầu nối để những sản phẩm đặc trưng của Lào Cai đến gần hơn với người tiêu dùng trong nước và bạn bè quốc tế. Đây không chỉ là hành trình quảng bá một sản phẩm, mà còn là cách đưa giá trị của núi rừng, bản sắc văn hóa và khát vọng vươn lên của đồng bào vùng cao đi xa hơn.

Xin cảm ơn chị!