Những đổi thay trên vùng đất khó

Những đổi thay trên vùng đất khó

Tỉnh Trà Vinh có tổng dân số hơn 1 triệu người, trong đó, đồng bào dân tộc Khmer chiếm gần 32%. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc Khmer là nhiệm vụ trọng tâm luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Trà Vinh ưu tiên thực hiện. Nhờ vậy, đời sống của đồng bào Khmer không ngừng được nâng lên, phum sóc ở Trà Vinh “thay da, đổi thịt” từng ngày.

Những đổi thay trên vùng đất khó ảnh 1Quang cảnh thị trấn Định An, huyện Trà Cú (Trà Vinh) ngày nay. Ảnh: Phúc Thanh

* Thay đổi nếp nghĩ, cách làm để nâng cao đời sống

Trở lại huyện vùng sâu Trà Cú, địa phương có trên 62% đồng bào dân tộc Khmer, diện mạo vùng quê nghèo ngày nào như khoác trên mình chiếc áo mới. Đường giao thông nông thôn được nhựa hóa, bê tông hóa vào tận phum sóc. Các công trình phúc lợi như trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được đầu tư khang trang; nhiều ngôi nhà mới kiên cố “mọc” lên…

Người dân Khmer địa phương đã có nhiều thay đổi trong nếp nghĩ, cách làm, áp dụng hiệu quả việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất để tăng thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích. Hầu hết các mô hình chuyển đổi đều cho lợi nhuận tăng gấp nhiều lần, giúp đời sống đồng bào Khmer cải thiện đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người của huyện hiện đạt 45,5 triệu đồng/người/năm, tăng 5,31 triệu đồng so với năm 2019 và tăng gần 23 triệu đồng/người/năm so với 5 năm trước.

Nền kinh tế của huyện Trà Cú chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, đây là địa phương bị ảnh hưởng biến đổi khí hậu nặng nhất tỉnh. Hạn, mặn thường xuyên xâm nhập nội đồng vào mùa khô khiến nhiều diện tích sản xuất bị thiếu nước tưới. Do vậy, huyện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng để thích ứng, nhất là những diện tích trồng lúa, mía kém hiệu quả.

Gia đình chị Sơn Thị Dân, ấp Giồng Lớn A, xã Đại An, huyện Trà Cú có 3 công đất canh tác (1 công = 1.000 m2) trước đây trồng 3 vụ lúa, nhưng năng suất đạt rất thấp, chỉ khoảng 450 kg/công. Năm 2016, gia đình chị được chính quyền địa phương vận động chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Từ nguồn vốn vay ưu đãi 17 triệu đồng của Ngân hàng chính sách xã hội, chị Dân đầu tư mô hình trồng luân canh lúa - ngô - khoai môn sáp và nuôi bò sinh sản. Kết quả, mô hình luân canh cho lợi nhuận mỗi năm trên 20 triệu đồng/công, tăng khoảng 5 lần so với độc canh cây lúa. Cùng với nguồn thu từ nuôi bò, năm 2018, gia đình chị Sơn Thị Dân đã thoát nghèo.

Ở ấp Giồng Lớn A này, có rất nhiều hộ Khmer chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả và thoát nghèo như gia đình chị Sơn Thị Dân. Bí thư Chi bộ ấp Giồng Lớn A Thạch Long cho biết, đồng bào Khmer địa phương chủ yếu sống bằng nghề nông. Cùng với việc vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhà nước đã đầu tư hạ thế điện để phục vụ chuyển đổi. Nhờ có điện sản xuất nên việc tưới tiêu thuận lợi, giảm đáng kể chi phí phí nhân công; năng suất tăng từ 1,5-2 lần so với trước kia. Năm 2012, ấp có gần 200 hộ nghèo thì hiện nay chỉ còn 8 hộ nghèo. Thu nhập bình quân đầu người của ấp hiện đạt 48 triệu đồng/người/năm, tăng 30 triệu đồng/người/năm so với 5 năm trước.

Những năm qua, huyện Trà Cú đã huy động nhiều nguồn lực để thực hiện công tác giảm nghèo bền vững. Các xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển được đầu tư xây dựng, duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho đồng bào vùng sâu, vùng xa đi lại, mua bán, trao đổi hàng hóa thuận lợi. Đồng bào Khmer nghèo trên địa bàn còn được hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, được vay vốn tín dụng, cấp phát thẻ bảo hiểm y tế, được hỗ trợ nhà ở, đất ở, tiền điện, miễn giảm học phí…

Chỉ tính riêng năm 2020, huyện đã huy động tổng số tiền hơn 266 tỷ đồng để thực hiện công tác giảm nghèo bền vững. Nhờ vậy, đời sống của người dân địa phương được nâng lên đáng kể. Tỷ lệ hộ nghèo được kéo giảm từng năm; năm 2020, huyện tiếp tục xóa được hơn 700 hộ nghèo. Đến nay, Trà Cú đã có 9/15 xã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

* Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Những đổi thay trên vùng đất khó ảnh 2Thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp tại xã Phước Hưng, huyện Trà Cú (Trà Vinh). Ảnh: Phúc Thanh

Với mục tiêu đưa Trà Cú trở thành huyện nông thôn mới trước năm 2023, Đảng bộ và chính quyền huyện Trà Cú tập trung nhiều giải pháp. Để nâng cao hiệu quả sản xuất của người dân, địa phương phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất.

Ông Dương Văn Triệu, Bí thư Huyện ủy Trà Cú cho biết, nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ huyện quyết tâm phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội, đưa Trà Cú phát triển nhanh và bền vững. Bên cạnh chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả, địa phương cũng đang xây dựng kế hoạch hỗ trợ nông dân chuyển đổi diện tích trồng mía kém hiệu quả sang cây trồng khác và nuôi thủy sản. Cùng với việc hướng dẫn nông dân về khoa học kỹ thuật trên những cây trồng, vật nuôi mới, huyện Trà Cú đang tích cực tìm kiếm các doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp để liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giúp đầu ra nông sản ổn định, nông dân địa phương yên tâm chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Theo ông Hà Thanh Sơn, Phó trưởng ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh, việc thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào Khmer đã và đang tạo nên diện mạo mới ở nhiều vùng quê trên địa bàn tỉnh. Các chính sách đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo đã tạo sự chuyển biến rõ nét, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào Khmer. Đến nay, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế, 100% trạm y tế xã có đủ điều kiện khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; 100% xã có mạng lưới trường mầm non, phổ thông, trung tâm học tập cộng đông; 76% công trình thủy lợi nhỏ đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây trồng hàng năm...

Phum sóc từng ngày đổi mới. Mùa Xuân 2021, cùng với người dân cả nước, đồng bào Khmer Trà Vinh cũng tuân thủ quy định phòng, chống dịch COVID-19, nên không khí những ngày giáp Tết ở phum sóc không tất bật, rộn ràng như mọi năm; nhưng sắc Xuân đang tràn ngập trên những nét mặt phấn khởi của bà con Khmer, hứa hẹn một năm mới sung túc, ấm no, đủ đầy./.

Thanh Hòa

Thanh Hòa ((TTXVN))
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.

Tại nhiều vùng cao, tầm vóc thấp bé và chứng còi xương ở trẻ em vẫn rất phổ biến. Ảnh: V.T

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống-Bài 2: Thể trạng con người còi xương, hệ lụy khôn lường về di truyền

Hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn là căn nguyên khiến thể trạng con người và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc hạn chế, gen di truyền từ cha mẹ sang con khiến những trẻ em sinh ra thường mắc các bệnh còi xương, thấp bé... và vòng xoáy nghèo đói tiềm ẩn nơi non cao.