Những giải pháp bảo tồn nghệ thuật cải lương đã và đang được cơ quan chức năng, các nghệ sỹ, người yêu mến nghệ thuật truyền thống ở trong nước cũng như quốc tế thực hiện với mong muốn loại hình nghệ thuật này được gìn giữ, có bước phát triển mới trong thời đại số. Phóng viên TTXVN phản ánh nội dung này qua hai bài viết: Nỗ lực bảo tồn và phát triển nghệ thuật cải lương trong thời đại số. Bài 1: Cải lương thật và đẹp Quang cảnh khán phòng biểu diễn sân khấu cải lương Trần Hữu Trang, TP.HCM. Ảnh: Gia Thuận - TTXVN Theo các nhà nghiên cứu nghệ thuật sân khấu, trong quá trình khẩn hoang, hình thành vùng đất Nam Bộ, cư dân miền đất mới này đã sáng tác ra hai loại hình nghệ thuật độc đáo, đó chính là nghệ thuật đờn ca tài tử và cải lương. Trải qua hơn 100 năm lịch sử, cải lương đã trở thành một loại hình nghệ thuật sân khấu gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân không chỉ ở vùng đất Nam Bộ mà có sự lan tỏa ra cả nước.
Loại hình nghệ thuật đặc sắc Cải lương là loại hình nghệ thuật có sự tổng hợp của hát bội, đờn ca tài tử và chịu ảnh hưởng của kịch nghệ phương Tây. Theo năm tháng, loại hình nghệ thuật này đã có những biến cải về nội dung tuồng tích, điệu ca, lời hát cho đến cách thức bài trí sân khấu...
Song, có thể khẳng định, dù có thay đổi, cải tiến đến đâu thì những giá trị cốt lõi của nghệ thuật cải lương như tính trữ tình, nét bi, sự khôi hài… vẫn tồn tại trong nhiều vở diễn kinh điển của loại hình nghệ thuật đặc sắc này.
Phó Giáo sư Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, thuật ngữ cải lương mang ý nghĩa là “cải cách và sửa đổi cho trở nên tốt hơn”. Cải cách, sửa đổi ở đây chính là hướng đến sự phát triển của nghệ thuật sân khấu ở Nam Bộ vừa mang đậm nét truyền thống, vừa theo kịp đà phát triển của văn minh. Điều này thể hiện qua hai câu đối: “Cải cách hát ca theo tiến bộ, lương truyền tuồng tích sánh văn minh”.
Có thể nói, sự ra đời nghệ thuật sân khấu cải lương là kết quả của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Pháp, giữa loại hình nghệ thuật truyền thống vốn phổ quát ở miệt vườn Nam Bộ là đờn ca tài tử và nghệ thuật sân khấu kịch thoại của Pháp.
Quá trình giao lưu văn hóa này đã hòa quyện một cách sâu đậm vào dòng văn hóa Nam Bộ đến mức khi khán giả xem một vở cải lương thì không còn phân biệt đâu là sự ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp.
Ở Nam Bộ, cải lương thật sự đã trở thành một loại hình nghệ thuật hấp dẫn với nội dung cốt truyện và lối diễn xuất của nghệ sỹ phù hợp tâm tư, nguyện vọng, lối sống phóng khoáng của người dân phương Nam.
Cũng theo Phó Giáo sư Ngô Thị Phương Lan, trong cuốn Hồi ký 50 năm mê hát, học giả Vương Hồng Sển từng cho rằng, cải lương chính thức đến với công chúng Nam bộ vào ngày 16/11/1918 khi vở "Gia Long tẩu quốc" được trình diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn. Dấu mốc lịch sử này được xem như ngày ra đời của nghệ thuật cải lương Nam bộ.
Còn nhà văn, đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc - người vừa cùng một nhóm nghiên cứu phỏng vấn, ghi lại những kỷ niệm và hồi ức về nghệ thuật cải lương của các nghệ sỹ trong khuôn khổ dự án Di sản kết nối do Hội đồng Anh thực hiện tại Việt Nam, chia sẻ: Nghệ thuật cải lương ra đời xuất phát từ lòng yêu nước của những người dân phương Nam muốn nước nhà có một nền nghệ thuật biểu diễn riêng, đặc sắc... Nghệ thuật cải lương đúng là một hình thức văn hóa độc đáo như Nghệ sỹ Nhân dân Nguyễn Thành Châu (Năm Châu) - một trong những nghệ sỹ cải lương bậc thầy từng nói: Cải lương thật và đẹp.
Những ký ức không thể phai mờ Nghệ thuật sân khấu cải lương được hình thành từ năm 1918 và đã từng bước phát triển bằng sự đóng góp tâm huyết của nhiều thế hệ nghệ sỹ, những trí thức nho học, tây học yêu thích tuồng tích cổ xưa nhưng muốn nó được cách tân, những doanh nhân mộ điệu thành lập các đoàn hát riêng để vừa thường thức nghệ thuật vừa kinh doanh và trên hết là các thế hệ khán giả yêu thích nghệ thuật cải lương Nam Bộ.
Theo Nghệ sỹ Nhân dân, đạo diễn Trần Minh Ngọc (nguyên Hiệu trưởng Trường nghệ thuật sân khấu 2, nay là Trường Đại học Sân khấu và điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh), giai đoạn 1955 - 1975 được giới sân khấu coi là thời kỳ hoàng kim của sân khấu cải lương. Sở dĩ có sự đánh giá cao này là do đây là thời kỳ nghệ thuật cải lương đạt được tất cả mọi tiêu chí của nghệ thuật trình diễn như kịch bản có nội dung tốt được viết bởi những tác giả rất giỏi.
Diễn viên hát rất hay do được dàn nhạc tài hoa hỗ trợ và khán giả rất say mê, mộ điệu hết lòng ủng hộ nghệ sỹ. Đội ngũ sáng tạo đàn anh như Nghệ sỹ Nhân dân Năm Châu, Mộng Vân, Lê Hoài Nở, Tư Chơi, Tư Trang vẫn tiếp tục sáng chói trong giai đoạn này cùng với đông đảo các soạn giả trẻ, nhiệt tình, năng động, bút lực dồi dào như Viễn Châu, Kiên Giang, Hà Triều - Hoa Phượng, Thu An, Quy Sắc, Thiếu Linh, Ngọc Linh… đã tạo nên những kịch bản hay về nội dung, đậm chất nhân văn và triết lý sâu sắc.
Hàng trăm vở cải lương tiêu biểu đã làm nên tên tuổi các nghệ sỹ như Thanh Nga, Út Bạch Lan, Út Trà Ôn, Kim Cúc, Ngọc Giàu, Diệp Lang, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Tòng, Thanh Kim Huệ.
Nhấn mạnh sức lan tỏa của nghệ thuật cải lương không chỉ ở vùng đất Nam Bộ, Nghệ sỹ Ưu tú, đạo diễn Ca Lê Hồng (Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, tuy khởi nguồn từ vùng đất phương Nam, mang hồn cách đặc sắc riêng của miền đất phù sa hiền hòa, từ giọng ca đầy sức truyền cảm cho đến âm điệu luyến láy ngọt ngào, song sân khấu cải lương không chỉ được công chúng phía Nam hâm mộ mà đã có sức lan tỏa khắp cả nước.
Từ những năm 30 của thế kỷ trước đã có những đoàn cải lương lưu diễn từ miền Nam ra miền Trung cho đến miền Bắc. Sau những đợt lưu diễn, một số nghệ sỹ đã trụ lại một thời gian dài ở Hà Nội để truyền nghề. Từ đó, sân khấu cải lương Nam Bộ được nhiều nghệ sỹ miền Bắc tiếp nhận, xây dựng nên các đoàn Cải lương Bắc như: Chuông Vàng, Kim Phụng, Liên đoàn Cải lương Khu 4…; một số nghệ sỹ đã thành danh như: Sỹ Tiến, Kim Chung, Ái Liên...
Từ sau ngày Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954, đất nước chia cắt, sân khấu cải lương tồn tại và hoạt động trong hai hoàn cảnh khác nhau. Tại miền Bắc, các văn nghệ sỹ cải lương miền Nam tập kết được tập hợp để thành lập Đoàn Cải lương Nam Bộ, đại diện cho sân khấu cải lương Nam Bộ trên đất Bắc.
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, các nghệ sỹ cải lương tập kết trở về miền Nam, cùng với một số nghệ sỹ cải lương trong đoàn Văn công Giải phóng, hợp thành Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang (Thành phố Hồ Chí Minh) dựng nhiều vở diễn tiêu biểu như: Nàng Xê đa, Hòn đảo thần vệ nữ, Rạng ngọc Côn Sơn, Thái hậu Dương Vân Nga, Kiều Nguyệt Nga...
Theo Thạc sỹ Phạm Thái Bình (Trung tâm Văn hóa, Sở Văn hóa - Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh), sau năm 1975, hầu hết các tỉnh, thành phố phía Nam đều thành lập các đoàn nghệ thuật cải lương như: Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang (Thành phố Hồ Chí Minh), Đoàn Cải lương Võ Thị Sáu (Đồng Nai), Đoàn Cải lương Tây Đô (Cần Thơ), Đoàn Cải lương Hương Tràm (Cà Mau)... Nhiều hội diễn, liên hoan sân khấu cải lương cũng đã được tổ chức quy mô, phục vụ công chúng yêu nghệ thuật sân khấu nước nhà./. (còn tiếp)
Là cơ hội kết nối sản phẩm văn hóa, du lịch, góp phần đẩy mạnh liên kết, phát triển du lịch Điện Biên-Tây Bắc với cả nước và quốc tế, Tuần lễ Văn hóa - Du lịch Điện Biên và các tỉnh Tây Bắc tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra từ ngày 4 - 6/12/2023 với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc vùng cao.
Đường hoa Nguyễn Huệ, “thương hiệu Tết” của thành phố Hồ Chí Minh đang được công nhân gấp rút thi công các hạng mục linh vật, tiểu cảnh... để kịp tiến độ hoàn thành đón Tết Quý Mão 2023.
Chiều 26/12, Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh đã phát động chương trình bình chọn “Thành phố Hồ Chí Minh – 100 điều thú vị” để đẩy mạnh quảng bá, kích cầu du lịch dịp cuối năm 2022 và trong năm 2023.
Diễn ra trong 4 ngày, ngày hội Khinh khí cầu TP. Hồ Chí Minh lần 2 mang đến cho người dân và du khách nhiều hoạt động đặc sắc, mới lạ, với những trải nghiệm, cung bậc cảm xúc khác nhau.
Ngày 16/7, Tiến sỹ, bác sỹ Trương Quang Định, Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, sau ca phẫu thuật tách rời, hai bệnh nhi Trúc Nhi - Diệu Nhi đã tỉnh, sức khỏe ổn định.
Ngay sau khi mở cửa hoạt động kinh doanh bình thường trở lại, tại Đường Sách Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị chức năng đã triển khai nhiều hoạt động tăng cường kết nối các nguồn lực xã hội; tổ chức giao lưu, tọa đàm, giới thiệu sách mới của các nhà xuất bản, công ty sách nhằm thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả.
Tối 5/5, thông tin từ Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, trên địa bàn Thành phố có thêm 1 trường hợp bệnh nhân đã được công bố khỏi bệnh dương tính trở lại với virus SARS-CoV-2. Đây là trường hợp thứ 10 tái dương tính trở lại tại địa phương này.
Trước tình hình có một số trường hợp người mắc COVID-19 đã được điều trị khỏi bệnh nhưng khi xét nghiệm giám sát sau đó ghi nhận dương tính lại với virus SARS-CoV-2, trong đó có trường hợp dương tính lại khi đã được điều trị khỏi bệnh 30 ngày, từ ngày 5/5, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh quyết định tăng thời gian cách ly, theo dõi đối với bệnh nhân mắc COVID-19.
Chiều 4/5, tại Cuộc họp Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Tấn Bỉnh, Giám đốc Sở Y tế thành phố, cho biết, tại địa phương có thêm 3 trường hợp tái dương tính với virus SARS-CoV-2, nâng tổng số bệnh nhân tái dương sau khi được công bố khỏi bệnh lên 9 ca.
Thông tin từ Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5 năm nay các bệnh viện trên địa bàn ghi nhận 7.293 trường hợp đến khám cấp cứu, tai nạn, giảm gần 50% so với báo cáo trong kỳ nghỉ lễ năm 2019.
Theo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, đến chiều 2/5, nhiều địa phương trên địa bàn thành phố đã tiến hành chi trả tiền hỗ trợ cho người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 theo Nghị quyết 42 của Chính phủ. Tại nhiều xã, phường dù đang trong kỳ nghỉ lễ song vẫn tiến hành chi trả tiền hỗ trợ kịp thời cho các nhóm gia đình chính sách, người có công, người hưởng bảo trợ xã hội, người nghèo, cận nghèo gặp khó khăn.
Tối 1/5, thông tin từ Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, có thêm 2 bệnh nhân đã được công bố khỏi bệnh dương tính trở lại với virus SARS-CoV-2. Đây là 2 trường hợp liên quan đến ổ dịch quán bar Buddha và dương tính sau 15 ngày xuất viện.
Ngày 1/5, thông tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, 92 người (gồm 87 người cư trú tại Chung cư 1A-1B Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, Quận 1 và 5 nhân viên cửa hàng tiện lợi) đã có kết quả âm tính với virus SARS-CoV- 2. Đây là những người có liên quan đến bệnh nhân 92 - bệnh nhân tái dương tính trở lại thứ 4 của Thành phố Hồ Chí Minh.
Thông tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh, trên địa bàn Thành phố đã bắt đầu xuất hiện các ổ dịch sốt xuất huyết nhỏ trong cộng đồng. Ngành y tế khuyến cáo, người dân cần chủ động phòng ngừa dịch bệnh này bởi nguy cơ sốt xuất huyết sẽ bùng phát khi mùa mưa đến.
Chiến tranh kết thúc, non sông liền một dải, cùng với nhiều địa phương ngoại thành của Thành phố mang tên Bác, người dân vùng căn cứ kháng chiến năm xưa như Tân Nhựt, Vĩnh Lộc A, Bình Lợi (huyện Bình Chánh) lại nỗ lực vượt khó, bền bỉ vươn lên, xây dựng nông thôn mới trên quê hương.
Tối 30/4, bà Nguyễn Thị Lê Hương, Bí thư Đảng ủy phường Đa Kao (Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết, các lực lượng chức năng của phường đã phong tỏa toàn bộ lô B2 gồm 39 căn hộ tại chung cư 1A - 1B phố Nguyễn Đình Chiểu do liên quan đến bệnh nhân 92, người mới được xác định tái dương tính với virus SARS-CoV-2. Tất cả 92 nhân khẩu trong 39 căn hộ đã được các nhân viên y tế đưa đi cách ly và lấy mẫu xét nghiệm.
Khu vực Bà Quẹo gồm ấp Tân Kỳ, Tân Phú, Tân Hương và Tân Thái Sơn là một trong 5 điểm khởi nghĩa của Thành đoàn Sài Gòn–Gia Định trong những ngày cuối tháng 4/1975, với lực lượng nòng cốt là thanh niên công nhân lao động và học sinh Công giáo. Đặc biệt, tại Nhà thờ Nhơn Hòa - Tân Kỳ (nay là Giáo xứ Nhơn Hòa, số 45 đường Hồ Đắc Di, phường Tân Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh) là một trong những điểm cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đầu tiên ở khu vực Sài Gòn – Gia Định.
Nằm trên địa bàn huyện Bình Chánh, với vị trí “đắc địa” - giáp căn cứ Vườn Thơm và căn cứ địa cách mạng Củ Chi, từng hứng chịu nhiều mưa bom, bão đạn, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, xã Vĩnh Lộc (nay là xã Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B) được mệnh danh là “vành đai lửa” ở vùng ven thành phố. Đặc biệt, trên mảnh đất này còn ghi dấu sự cống hiến và hy sinh dũng cảm của những cô gái Sài Gòn tuổi mười tám, đôi mươi đi tải đạn, đưa thương binh về hậu cứ điều trị.
Cuối năm 1974, đầu năm 1975, tin chiến thắng của quân giải phóng bay về dồn dập khiến phong trào đấu tranh trong nội thành Sài Gòn cũng dấy lên mạnh mẽ. Được sự chỉ đạo của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, Thành đoàn khẩn trương và bí mật triển khai lực lượng phụ trách 5 điểm khởi nghĩa gồm: Ngã Bảy - Bàn Cờ - Vườn Chuối, Cầu Kiệu - Phú Nhuận, Cầu Bông - Bà Chiểu, Xóm Chiếu - Khánh Hội và khu vực Tân Phú - Tân Sơn - Bà Quẹo để nổi dậy giành chính quyền tại các khu vực nội thành trước khi chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, huyện Bình Chánh - vùng đất cửa ngõ phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay từng là căn cứ cách mạng vững chắc. Xuất phát từ đây, quân và dân ta đã tổ chức nhiều trận đánh “thọc sâu”vào cơ quan đầu não của địch tại Sài Gòn, góp phần đi đến thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào tháng 4/1975.