Tiếp cận tích hợp phục hồi hệ sinh thái sông, hồ tại Việt Nam

Lưu vực sông Mê Kông Việt Nam. Ảnh: TTXVN
Lưu vực sông Mê Kông Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Năm 2020, chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã lựa chọn Chủ đề của Ngày Môi trường Thế giới là "Phục hồi Hệ sinh thái"; đây cũng là năm Liên hợp quốc phát động Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái với hy vọng ngăn chặn, phòng ngừa và đảo ngược sự suy thoái của hệ sinh thái trên toàn cầu. Theo "Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái", một trong những hệ sinh thái quan trọng nhất chính là hệ sinh thái sông và hồ.

Vai trò các hệ sinh thái sông, hồ

Đánh giá tầm quan trọng của hệ sinh thái sông Mê Công, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, Trường Đại học Cần Thơ cho rằng, Mê Kông là con sông dài thứ 12 trên thế giới và lớn thứ 10 về tổng lượng dòng chảy (hằng năm đạt khoảng 475 tỉ m3, lưu lượng trung bình khoảng 15.000 mét khối/s).

Ngoài nguồn tài nguyên nước, lưu vực sông Mê Kông có tính đa dạng sinh học rất cao, chỉ xếp sau lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ. Dòng chảy sông Mê Kông nuôi dưỡng nhiều vùng đất ngập nước đa dạng, đa chức năng trong lưu vực, duy trì các giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội và sinh thái đặc trưng.

Đất ngập nước có vai trò quan trọng là nguồn sống của người dân địa phương, tạo môi trường thuận lợi cho nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, sản xuất hàng hóa và phát triển du lịch. Ngoài ra, các vùng đất ngập nước tự nhiên còn mang lại các lợi ích khác như giảm thiểu lũ, trữ nước và làm sạch môi trường. Những cánh rừng rộng lớn trong lưu vực sông Mê Kông là môi trường sinh sống cho hàng ngàn loài động, thực vật. Các hệ sinh thái rừng ở lưu vực này rất phong phú với các khu rừng xanh, rừng trên núi, rừng cây rụng lá, cây bụi, cây lấy gỗ và rừng đước.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Anh Tuấn, nguồn nước sông Mê Kông cung cấp cho khoảng 18,6 triệu người ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi cung cấp hơn 50% nguồn lương thực cho cả nước, 65% sản lượng cá, 70% trái cây trong nước và xuất khẩu. Người dân thường sinh sống tập trung dọc bờ sông, nhưng sự phát triển kinh tế - xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long đang bị kìm hãm bởi nguồn nước. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng kết hợp với các vấn đề nguồn nước xuyên quốc gia như các đập thủy điện, phát triển công nghiệp, phá rừng và chuyển dòng nước đã ảnh hưởng đến đất, sản xuất nông nghiệp, làm giảm sản lượng, đe dọa an ninh lương thực và tăng nghèo, bên cạnh các yếu tố suy thoái môi trường, tài nguyên thiên nhiên.

Bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc Trung tâm Sáng tạo và Phát triển xanh (Green ID) cho rằng, hiện những hoạt động của con người đang phá hủy các vùng sinh thái phong phú như: Rừng nhiệt đới, vùng đất ngập nước, các rạn san hô, các cánh đồng cỏ có nguy cơ biến hành tinh của chúng ta thành một nơi cằn cỗi. Điều này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với chính con người. Khi hệ sinh thái bị suy thoái sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực, làm cho con người phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo, suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu, dẫn đến hàng loạt thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống. Tình hình hiện nay cho thấy việc khôi phục bảo vệ các hệ sinh thái, nguồn tài nguyên rừng, sự đa dạng loài và đa dạng di truyền để bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn chặn sự diệt vong của các loài quý hiếm là một việc làm cấp bách.

Tiếp cận tích hợp phục hồi hệ sinh thái sông, hồ tại Việt Nam ảnh 1Lưu vực sông Mê Kông Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Cần tiếp cận bao trùm và tích hợp

Để phục hồi hệ sinh thái cho Đồng bằng sông Cửu Long, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho rằng, thời gian tới các địa phương cần đánh giá hiện trạng các dòng sông, từ đó nhận diện được nguy cơ, thách thức nhằm ngăn chặn khai thác quá mức, xả thải ô nhiễm... Theo đó, việc phục hồi có thể xảy ra theo nhiều cách như thông qua việc tích cực trồng cây hoặc cần đất canh tác và cơ sở hạ tầng trên vùng đất từng là rừng và các hệ sinh thái... Đồng thời, ngành chức năng cần tiến hành phục hồi hệ sinh thái ở những khu vực suy thoái; tăng cường công tác quan trắc tài nguyên, môi trường, đặc biệt đối với nguồn nước, chất lượng môi trường được tiến hành thường xuyên hằng năm nhằm theo dõi sự thay đổi tình trạng môi trường, tài nguyên đa dang sinh học và có giải pháp quản lý thích ứng.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Trọng Tứ, quản lý tốt các dòng sông, trước tiên là thành lập các cơ quan quản lý tài nguyên nước trên các lưu vực sông là biện pháp rất căn cơ về thể chế. Ngoài ra, phải thực thi tích cực, triệt để đối với vấn đề ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu làng nghề. Vấn đề xả thải không được tác động đến nguồn nước; phải có biện pháp xử phạt mạnh tay, quyết liệt đối với các trường hợp cố ý, tái phạm nhiều lần. Việc tái sử dụng nước cũng rất lợi cho cơ sở sản xuất, giảm lượng nước thải cho các dòng sông.

Cùng với đó, Việt Nam cần có cách tiếp cận bao trùm, tích hợp để phục hồi hệ sinh thái như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về ô nhiễm nguồn nước; huy động nguồn lực, nguồn tài chính của các tổ chức khoa học công nghệ, doanh nghiệp xã hội; đặc biệt là giải pháp về mặt công nghệ để phục hồi hệ sinh thái. Ngoài ra, Việt Nam nên thành lập nhóm làm việc gồm: Các chuyên gia về môi trường, nhà quy hoạch, chính quyền địa phương đồng thuận, quyết tâm khôi phục làm sạch dòng sông; thực hiện, giám sát các giải pháp công trình và phi công trình, đưa ra các cách tiếp cận bao trùm, giải pháp dựa vào cộng đồng, dựa vào tự nhiên.

Lý Thanh Hương

Lý Thanh Hương ((TTXVN))

Có thể bạn quan tâm

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.

Tại nhiều vùng cao, tầm vóc thấp bé và chứng còi xương ở trẻ em vẫn rất phổ biến. Ảnh: V.T

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống-Bài 2: Thể trạng con người còi xương, hệ lụy khôn lường về di truyền

Hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn là căn nguyên khiến thể trạng con người và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc hạn chế, gen di truyền từ cha mẹ sang con khiến những trẻ em sinh ra thường mắc các bệnh còi xương, thấp bé... và vòng xoáy nghèo đói tiềm ẩn nơi non cao.