Tìm giải pháp đảm bảo nguồn nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long

Ngày 30/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật phối hợp với Hội Khoa học, Kinh tế và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo “Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long”.

vna_potal_thanh_pho_ho_chi_minh_to_chuc_hoi_thao_“nuoc_ngot_cho_dong_bang_song_cuu_long”_7457611.jpeg
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Hồng Giang - TTXVN

Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, là chìa khóa chính trong Chiến lược an ninh lương thực quốc gia. Với tiềm năng nông nghiệp và thủy sản to lớn, những năm qua, Đồng bằng sông Cửu Long luôn đóng góp khoảng 53% tổng sản lượng lương thực, 65% tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và 70% trái cây của cả nước.

Tuy nhiên, nơi đây hiện đang đối mặt với nguy cơ khan hiếm nước ngọt do việc xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày một gia tăng và biến đổi khí hậu ngày một khốc liệt (nước biển dâng, nhánh sông lớn bị nước biển xâm nhập mặn) đã gây tổn hại nghiêm trọng đến nông nghiệp và tác động xấu đến môi trường khu vực.

vna_potal_thanh_pho_ho_chi_minh_to_chuc_hoi_thao_“nuoc_ngot_cho_dong_bang_song_cuu_long”_7457618.jpeg
GS.TS. Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Hồng Giang - TTXVN

Theo tính toán của các đơn vị nghiên cứu thủy lợi, nhu cầu sử dụng nước ở Đồng bằng sông Cửu Long hàng năm hiện vào khoảng 22,8 tỷ m3. Hiện trạng thiếu hụt nước ngọt vào mùa khô ở Đồng bằng sông Cửu Long hàng năm vào khoảng 4,2 tỷ m3, dự báo lên đến 4,8 tỷ m3 vào năm 2030 và 5 tỷ m3 vào năm 2050.

Xuất phát từ nhu cầu cấp bách hiện nay, nhóm nghiên cứu Dự án “Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long” do Tiến sỹ Võ Văn Hải, Phó Chủ tịch Hội Khoa học, Kinh tế và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm đã nghiên cứu nhiều phương án, đề xuất để góp phần vào việc xây dựng phát triển bền vững.

Sau quá trình nghiên cứu, nhóm đề xuất giải pháp xây dựng hồ chứa nước ngọt tại khu vực vùng đệm xung quanh Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông - Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp có dung tích hữu ích 1,5 tỷ m3/nước, với 3 phương án chi phí từ 30.000 tỷ đồng đến 60.000 tỷ đồng. Còn tại Hậu Giang sẽ xây dựng hồ chứa nước tại khu vực vùng đệm xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, huyện Phụng Hiệp với dung tích hữu ích của hồ là 1 tỷ m3/nước cùng 3 phương án chi phí từ 18.000 tỷ đồng đến 68.000 tỷ đồng.

vna_potal_thanh_pho_ho_chi_minh_to_chuc_hoi_thao_“nuoc_ngot_cho_dong_bang_song_cuu_long”_7457613.jpeg
Tiến sỹ Võ Văn Hải, Phó Chủ tịch Hội Khoa học, Kinh tế và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Dự án “Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long” phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Hồng Giang - TTXVN

Tiến sỹ Võ Văn Hải lý giải, Vườn quốc gia Tràm Chim nằm ở vùng trũng Đồng Tháp Mười, được mệnh danh là “túi nước” khổng lồ của Đồng bằng sông Cửu Long trước đây. Nếu xây dựng hồ chứa nước ngọt tại đây sẽ thuận lợi cho việc điều tiết dòng chảy mùa kiệt, cung cấp nước cho các tỉnh Long An - Tiền Giang - Vĩnh Long - Bến Tre; thông qua hệ thống kênh liên tỉnh đấu nối với các kênh Hồng Ngự - Long An, An Hòa, Đồng Tiến, Phú Hiệp… Đồng thời, việc mở rộng diện tích trong khu vực 5 xã vùng đệm cũng thuận lợi với mật độ dân cư thấp (281 người/km2); chi phí đền bù giải tỏa, tái định cư không quá cao.

Còn việc xây dựng hồ chứa nước tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng với vị trí nằm trên khu vực 3 xã Phương Bình - Phương Phú - Tân Phước (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) cũng thuận lợi cho việc chứa nước và điều tiết nước với các tỉnh Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau và một phần tỉnh Kiên Giang - Thành phố Cần Thơ thông qua kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, Lái Hiếu, sông Cái Lớn và nhiều hệ thống kênh rạch khác. Chỉ cần nạo vét, mở rộng một số kênh rạch để dòng chảy thuận lợi trong việc trữ nước mùa lũ và điều tiết nước trong mùa khô. Ngoài ra, việc xây dựng hồ chứa nước tại Lung Ngọc Hoàng còn góp phần bảo vệ khu bảo tồn cảnh quan thiên nhiên nơi đây, vốn là nơi sinh sản, dự trữ thủy sản cho Đồng bằng sông Cửu Long.

Với quy mô của 2 hồ chứa, nhóm nghiên cứu Dự án “Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long” tin tưởng sẽ đủ sức để điều nước cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa cạn.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng sẽ thông qua Dự án “Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long” để thực hiện đánh giá hiện trạng, dự báo được tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn cùng tác động của biến đổi khí hậu, các công trình thủy lợi của Thái Lan, Campuchia và các yếu tố môi trường, để có đề xuất phù hợp với chiến lược phát triển bền vững cho Đồng bằng sông Cửu Long. Dự án cũng sẽ đánh giá diễn biến dòng chảy sông Mekong khi các đập thủy điện ở thượng nguồn đi vào khai thác; tình hình xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long qua các năm 2010-2023; nhu cầu nguồn nước để đủ sản xuất, sinh hoạt và chống xâm nhập mặn, từ đó có giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long.

vna_potal_thanh_pho_ho_chi_minh_to_chuc_hoi_thao_“nuoc_ngot_cho_dong_bang_song_cuu_long”_7457616.jpeg
PGS.TS. Tô Văn Thanh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Hồng Giang - TTXVN

Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học, chuyên gia môi trường đồng tình với đề xuất xây hồ chứa nước ngọt của nhóm nghiên cứu Dự án “Nước ngọt cho Đồng bằng sông Cửu Long”. Bởi lẽ, Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cuối nguồn sông Mekong nên cần xây dựng hồ chứa nước ngọt đủ lớn nhằm điều tiết lưu lượng, đáp ứng được nhu cầu toàn vùng. Nhưng nhiều ý kiến cũng cho rằng, tổng mức đầu tư cao sẽ khiến việc điều động vốn thực hiện không dễ; do đó cần lựa chọn phương án hiệu quả nhất để phát huy tính hữu ích lâu dài trong tương lai.

Liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước ngọt, đảm bảo phát triển bền vững cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tiến sỹ Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện kinh tế và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Cần tối ưu hóa sử dụng tài nguyên nước ở khu vực này, đảm bảo không khai thác quá mức nguồn nước ngầm trong mùa khô để tránh thất thoát và bảo đảm chất luợng nước; sử dụng phương pháp tưới tiết kiệm nước trong nông nghiệp. Ngoài ra, cần kiểm soát chặt chẽ việc xả thải và bảo vệ các nguồn nước mặt khỏi ô nhiễm, tích hợp sử dụng năng lượng mặt trời và gió để giảm áp lực lên nguồn nước.

Hồng Giang

Hồng Giang

Có thể bạn quan tâm

Không để khoảng cách địa lý làm khó người dân tiếp cận dịch vụ công

Không để khoảng cách địa lý làm khó người dân tiếp cận dịch vụ công

Sau sáp nhập, địa giới hành chính cấp xã mở rộng khiến việc đi lại để giải quyết thủ tục hành chính của người dân gặp khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nhóm người yếu thế. Do đó, một số xã phía Tây tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai cách làm linh hoạt, đưa dịch vụ hành chính đến gần người dân.

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Hiện nay, tập quán nuôi chó thả rông, không xích nhốt và không đeo rọ mõm, đặc biệt tại khu vực nương rẫy trên địa bàn thành phố Đồng Nai vẫn còn rất phổ biến. Thực trạng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho virus dại lây truyền chéo giữa động vật hoang dã, chó thả rông và đàn chó nuôi tại các hộ gia đình.

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Trà Leng là vùng đất nổi tiếng với danh xưng “cao sơn ngọc quế” nhưng nơi đây cũng thường được nhắc đến như vùng “tâm chấn sạt lở” ở khu vực miền núi phía Tây thành phố Đà Nẵng.

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Trước diễn biến phức tạp của tình trạng sụt lún và nứt gãy tại đoạn Km136+800 - Km136+900 trên tuyến Quốc lộ 28, khu vực giáp ranh giữa xã Phúc Thọ Lâm Hà và xã Tà Đùng, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đang khẩn trương triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Từ xa xưa, nhà rông đã là không gian sinh hoạt chung, là biểu tượng văn hóa của buôn làng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.