Tỷ phú vùng cao và 'phép màu' từ chăn nuôi động vật đặc sản

Từ niềm đam mê với nông nghiệp và khát vọng phát triển kinh tế trên chính quê hương mình, anh Lưu Duy Đông, dân tộc Tày (xã Vị Xuyên, Tuyên Quang) đã mạnh dạn lựa chọn hướng đi khác biệt khi phát triển mô hình chăn nuôi động vật đặc sản.

trang-trai-dac-san-3.jpg
Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đà điểu trong trang trại.

Sau gần 8 năm kiên trì vượt qua khó khăn, mô hình của anh không chỉ mang lại nguồn thu nhập cao cho gia đình mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế mới tại địa phương.

Trước đây công tác trong ngành Nông nghiệp, anh Lưu Duy Đông sớm nhận thấy tiềm năng của mô hình chăn nuôi đặc sản. Năm 2018, anh bắt đầu khởi nghiệp với số vốn khoảng 80 triệu đồng qua việc mua con giống và dựng chuồng trại.

Những ngày đầu, do thiếu kinh nghiệm thực tế, nhiều vật nuôi mắc bệnh, đặc biệt chim công bị bệnh phân trắng khiến thiệt hại lớn. Không nản lòng, anh chủ động tìm tòi tài liệu, đi nhiều nơi học hỏi kỹ thuật chăn nuôi. Đến năm 2021, anh quyết định nghỉ công tác tại cơ quan nhà nước để tập trung phát triển mô hình kinh tế trang trại của gia đình.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Anh Lưu Duy Đông chia sẻ: Ban đầu làm rất vất vả vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế. Có thời điểm chim công bị dịch bệnh, thiệt hại khá nhiều. Nhưng mình cứ vừa làm vừa học hỏi, theo dõi từng loại vật nuôi để điều chỉnh cách chăm sóc phù hợp. Quan trọng nhất là phải kiên trì và chịu khó tìm tòi kỹ thuật.

Theo anh Đông, mỗi loại vật nuôi đều có đặc tính riêng nên cần chế độ chăm sóc phù hợp. Với gia cầm và chim cảnh, anh sử dụng men vi sinh, bổ sung vitamin và tiêm phòng đầy đủ để tăng sức đề kháng. Đối với nhím và cầy, thức ăn chủ yếu là ngô, rau xanh, hoa quả nhằm đảm bảo chất lượng thịt và sức khỏe vật nuôi.

Từ vài cặp giống ban đầu, đến nay trang trại của anh đã phát triển lên quy mô hàng nghìn con vật nuôi các loại như: chim công, nhím, cầy vòi mốc, cầy hương và gà H'Mông đen. Tổng vốn đầu tư cho hệ thống chuồng trại, đất đai và con giống hiện đã lên tới khoảng 7-8 tỷ đồng.

Đàn công giá trị cao của anh Lưu Duy Đông, dân tộc Tày (xã Vị Xuyên, Tuyên Quang).

Đàn công giá trị cao của anh Lưu Duy Đông, dân tộc Tày (xã Vị Xuyên, Tuyên Quang).

Hiện nay, ngoài nuôi công, anh Đông tập trung phát triển mô hình nuôi nhím thương phẩm và nhím sinh sản với quy mô gần 500 con. Đây là một trong những hướng chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao của trang trại. Với kinh nghiệm nhiều năm và chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp, anh xây dựng quy trình chăm sóc phù hợp, chú trọng chế độ dinh dưỡng tự nhiên bằng ngô, rau xanh, hoa quả để nhím phát triển khỏe mạnh, đạt trọng lượng từ 10-12kg/con sau khoảng 15 tháng nuôi.

Anh cho biết: Hiện mỗi năm trang trại xuất bán hàng trăm con nhím giống và nhím thương phẩm. Nhím nuôi theo hướng tự nhiên nên thịt chắc, chất lượng tốt, đầu ra ổn định. Giá nhím thịt hiện khoảng 300.000 đồng/kg, còn nhím giống khoảng 3 triệu đồng/cặp nên mang lại thu nhập khá ổn định cho gia đình.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Không chỉ phát triển kinh tế hộ gia đình, anh Đông còn hướng tới xây dựng mô hình liên kết sản xuất với người dân địa phương. Đặc biệt, anh đang triển khai mô hình liên kết nuôi gà H'Mông đen theo hướng vi sinh hữu cơ cho hơn 100 hộ dân trong xã và nhiều địa phương lân cận. Dù mới bắt đầu thực hiện, nhưng cơ sở đã hỗ trợ con giống, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi và cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra, góp phần mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho bà con địa phương.

Anh Hoàng Văn Sinh, người dân tham gia mô hình nuôi gà H'Mông đen cùng anh Đông cho biết: "Được anh Đông hỗ trợ giống và hướng dẫn kỹ thuật nên gia đình tôi yên tâm hơn trong chăn nuôi. Gà nuôi theo hướng tự nhiên nên dễ chăm sóc, đầu ra cũng ổn định hơn vì có người bao tiêu sản phẩm".

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc nhím sơ sinh trong trang trại.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc nhím sơ sinh trong trang trại.

Không chỉ chú trọng phát triển chăn nuôi, anh Đông còn chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua các nền tảng mạng xã hội và hệ thống đầu mối kinh doanh trên toàn quốc. Sản phẩm của trang trại được tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành phố, nhiều thời điểm không đủ hàng để cung cấp cho thị trường.

Hiện nay, doanh thu của trang trại đạt khoảng từ 2-3 tỷ đồng/năm, mang lại lợi nhuận ổn định cho gia đình. Bên cạnh đó, trang trại còn tạo việc làm thường xuyên cho hơn 10 lao động với thu nhập bình quân từ 7-10 triệu đồng/người/tháng.

Anh Lưu Duy Đông vệ sinh và chăm sóc đàn nhím thương phẩm trong trang trại.

Anh Lưu Duy Đông vệ sinh và chăm sóc đàn nhím thương phẩm trong trang trại.

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, anh Đông cho hay, chăn nuôi đặc sản vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro về dịch bệnh, thiên tai và thị trường. Tuy nhiên, với anh điều quan trọng nhất là phải kiên trì, chịu khó học hỏi và làm bài bản thì mới có thể phát triển bền vững.

Từ mô hình nhỏ với số vốn ít ỏi ban đầu, anh Lưu Duy Đông đã từng bước xây dựng thành công trang trại chăn nuôi đặc sản mang lại thu nhập cao. Mô hình hiện thu hút nhiều người dân và địa phương đến tham quan, học tập kinh nghiệm. Anh cũng luôn sẵn sàng chia sẻ kỹ thuật chăn nuôi; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, phát triển thêm các loại vật nuôi có giá trị kinh tế cao trong thời gian tới…/.

Bài và ảnh: Đức Thọ/TTXVN
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.