45 năm người mẹ vùng biên ngóng tin con

Dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh, nơi những dãy núi trùng điệp ôm lấy vùng biên giới Thanh Thủy (Tuyên Quang), có một người mẹ đã dành gần trọn cuộc đời để nhớ về người con trai cả hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Trong căn nhà sàn nép mình bên trận địa pháo của mặt trận Vị Xuyên năm xưa, bà Lý Thị Xoa, người dân tộc Tày, thôn Giang Nam, xã biên giới Thanh Thủy vẫn ngày ngày nhìn lên di ảnh con và mong một lần được biết nơi anh đang nằm lại. Chiến tranh đã lùi xa nhưng với người mẹ ấy, ký ức về liệt sĩ Lý Văn Thàng vẫn còn vẹn nguyên.

me-liet-si-110826-1.jpg
Tuổi cao, sức yếu, bà Lý Thị Xoa vẫn đau đáu mong ngày tìm thấy hài cốt con trai là liệt sĩ Lý Văn Thàng.

Lời hẹn tuổi đôi mươi

Tuổi đã cao, bước chân không còn vững, đôi tai ngày một nặng, trí nhớ có lúc nhớ, lúc quên, bà Xoa không còn nhớ hết những chuyện đã xảy ra trong cuộc sống nhưng khi nhắc đến người con trai đã hy sinh, bà dường như không quên điều gì.

Trước tấm di ảnh người con trai ở tuổi đôi mươi, bà thường ngồi thật lâu, lặng lẽ nhìn khuôn mặt con trong bức ảnh đã theo gia đình suốt hàng chục năm. Những giọt nước mắt dường như đã cạn sau 45 năm xa cách, nhưng nỗi nhớ vẫn còn nguyên.

Bà thường ngồi thật lâu, lặng lẽ nhìn khuôn mặt con trong bức ảnh. Những giọt nước mắt dường như đã cạn sau 45 năm xa cách nhưng nỗi nhớ vẫn còn nguyên.

Bà vẫn nhớ người con trai hiền lành và lời anh nói trước ngày lên đường: Hết giặc sẽ trở về với mẹ. Bà Lý Thị Xoa, mẹ liệt sĩ Lý Văn Thàng kể lại: "Thàng nó trẻ và hiền lắm. Khi đi bộ đội nó bảo hết giặc con sẽ về với mẹ nhưng đến giờ nó vẫn chưa về. Bà giờ yếu rồi, hay đau ốm, gọi con về ở bên cạnh mà không thấy. Nhớ con lắm. Bà chỉ mong sẽ tìm được hài cốt hoặc thông tin về con trước khi bà về với tiên tổ ".

Sinh ra và lớn lên dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh trong gia đình dân tộc Tày ở vùng biên, chàng trai Lý Văn Thàng nhập ngũ khi vừa 18 tuổi. Khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra ác liệt, chàng trai trẻ đã tình nguyện khoác lên mình màu xanh áo lính, mang theo lời hẹn sẽ trở về sau ngày đất nước yên bình. Nhưng năm 1981, khi vừa tròn 20 tuổi, anh đã anh dũng hy sinh sau một trận giao tranh ác liệt tại mặt trận Vị Xuyên. Người con trai cả ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, để lại người mẹ nơi quê nhà cùng lời hẹn dở dang...

Suốt 45 năm, gia đình chỉ biết anh đã hy sinh, còn nơi hài cốt người con trai nằm lại vẫn chưa được xác định. Đối với bà Xoa, mất con đã là nỗi đau lớn nhưng day dứt hơn là không biết con mình đang ở đâu, chưa thể đưa anh trở về với quê hương, gia đình và đồng đội.

Khi sức khỏe còn cho phép, người mẹ từng tìm về chiến trường xưa, hỏi thăm những người đã chiến đấu tại mặt trận Vị Xuyên, lần theo từng thông tin ít ỏi với hy vọng tìm được nơi con hy sinh, nơi được an táng. Nhưng chiến tranh đã đi qua, nhiều nhân chứng không còn, những dấu tích năm xưa cũng dần bị thời gian phủ lấp.

Người thân tiếp bước hành trình đưa liệt sĩ trở về

Tuổi cao, sức yếu, bà Lý Thị Xoa vẫn đau đáu mong ngày tìm thấy hài cốt con trai là liệt sĩ Lý Văn Thàng.

Tuổi cao, sức yếu, bà Lý Thị Xoa vẫn đau đáu mong ngày tìm thấy hài cốt con trai là liệt sĩ Lý Văn Thàng.

Giờ đây, tuổi cao khiến bà không thể tự mình tiếp tục hành trình ấy. Khi Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được triển khai, anh Lý Văn Đông, cháu của liệt sĩ Lý Văn Thàng là dân quân xã Thanh Thủy đã xin tham gia cùng lực lượng tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ của tỉnh. Mỗi chuyến lên núi đối với anh vừa là thực hiện nhiệm vụ chung vừa mang theo mong muốn của gia đình tìm lại người bác đã nằm lại chiến trường.

Anh Lý Văn Đông cho biết " Tham gia đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, tôi được đi nhiều nơi, đến những khu vực từng là chiến trường để tìm kiếm, đưa các chú, các bác trở về với quê hương, gia đình. Mỗi lần đi, ngoài mong muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôi luôn hy vọng có thể tìm được thêm thông tin, manh mối về bác của mình để một ngày nào đó đưa bác trở về với gia đình".

Từ căn nhà sàn dưới chân Tây Côn Lĩnh, bà Xoa dõi theo hành trình ấy. Mỗi thông tin về những trường hợp hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại các điểm cao, khu vực từng diễn ra chiến sự lại khiến gia đình thêm một lần có niềm tin. Bà không còn đủ sức đi tìm con nhưng vẫn mong những người đang tiếp tục công việc này sẽ một ngày mang đến cho gia đình câu trả lời sau 45 năm xa cách.

Bà Lục Thị Huyên, con dâu bà Xoa, người đã sống và chăm sóc mẹ chồng suốt nhiều năm cũng đau đáu về người anh của chồng đã hy sinh. Chồng bà hiện nay sức khỏe yếu, thường xuyên đau ốm nên việc đi lại, tìm kiếm, hỏi thăm thông tin về người anh đã hy sinh càng trở nên khó khăn.

Bà Lý Thị Xoa, mẹ liệt sĩ Lý Văn Thàng, vẫn ngóng chờ tin người con trai đã hy sinh 45 năm trước.

Bà Lý Thị Xoa, mẹ liệt sĩ Lý Văn Thàng, vẫn ngóng chờ tin người con trai đã hy sinh 45 năm trước.

Bà Lục Thị Huyên chia sẻ: "Tôi ở với mẹ được 30 năm rồi. Tôi chỉ mong Đảng, Nhà nước và các lực lượng sớm tìm được anh tôi về với gia đình, với mẹ tôi để mẹ được yên lòng".

Cùng với công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, cấp ủy, chính quyền xã Thanh Thủy luôn quan tâm chăm lo các gia đình chính sách, người có công và thân nhân liệt sĩ. Với những mẹ liệt sĩ tuổi cao, sức yếu, địa phương thường xuyên thăm hỏi, động viên, nắm bắt đời sống và hỗ trợ khi cần thiết. Sự quan tâm ấy không thể bù đắp mất mát do chiến tranh để lại nhưng là nguồn động viên để những người có công và thân nhân liệt sĩ vơi bớt khó khăn trong cuộc sống.

Địa phương cũng phối hợp với các cơ quan chức năng rà soát hồ sơ, thu thập thông tin từ gia đình, đồng đội và nhân chứng, phục vụ công tác tìm kiếm những liệt sĩ chưa xác định được nơi an táng. Ở vùng đất từng chứng kiến những trận chiến ác liệt, mỗi thông tin dù nhỏ đều được trân trọng, bởi phía sau mỗi cái tên là một gia đình đã đợi hàng chục năm để được đón người thân trở về.

Năm 2025, khi sức khỏe bà Lý Thị Xoa đã yếu, lực lượng chức năng xã Thanh Thủy đã đến tận nhà, đưa bà đi lấy mẫu ADN để phục vụ công tác xác định danh tính, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Với gia đình, đó là một lần nữa niềm hy vọng được thắp lên sau hàng chục năm chờ đợi. Người mẹ già mong kết quả sẽ giúp biết con trai đang nằm ở đâu; những người thân trong gia đình cũng mong có thêm một manh mối để đưa người bác, người chú trở về.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng với bà mẹ chưa được tìm thấy phần mộ con trai như cụ Lý Thị Xoa, hành trình tìm kiếm di cốt người thân đã không đơn độc mà có sự tiếp sức, chung tay của cả hệ thống chính trị - đó chính là Chiến dịch 500 ngày đêm!./.

Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Từ tối 11 đến chiều 12/9, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra mưa vừa đến mưa to và có nơi có dông. Đặc biệt, ở khu vực biên giới của tỉnh, mưa lớn kéo dài nhiều giờ khiến mực nước trên các sông, suối dâng cao, một số tuyến đường bị ngập, gây ách tắc và chia cắt tạm thời một số nơi.

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Sau nhiều ngày mưa lớn gây ngập lụt, sạt lở tại nhiều khu vực, ngày 11/9, khi nước tại một số nơi bắt đầu rút, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng khẩn trương huy động lực lượng hỗ trợ người dân dọn dẹp nhà cửa, đường sá, khắc phục hậu quả; đồng thời rà soát, đánh giá thiệt hại và chủ động phương án ứng phó trước nguy cơ mưa lớn tiếp diễn.

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Liên quan đến vấn đề tồn đọng hồ sơ đất đai tại Đắk Lắk mà phóng viên TTXVN đã phản ánh, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành văn bản số 14151/UBND-PVHCC, ngày 10/9 về việc tăng cường phối hợp giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, hạn chế phát sinh hồ sơ quá hạn. Trong đó, yêu cầu các địa phương kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với những chậm trễ trước đó.

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Chiều 10/9, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3, tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thông báo thực hiện việc xả lũ hồ Hạ (thuộc dự án hồ Gia Nghĩa). Theo đó, từ 17 giờ 00 phút cùng ngày, đơn vị sẽ bắt đầu thực hiện việc xả lũ theo quy trình đã được phê duyệt.

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Tây Ninh là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, với cộng đồng dân cư đa dạng về dân tộc, tôn giáo. Bằng những chính sách thiết thực, đồng bộ, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng lên, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Trải qua thăng trầm của thời gian và những khắc nghiệt của thời tiết, hơn một thế kỷ qua, những đồi chè cổ thụ ở thôn Lộc Thanh, xã Bình Minh, tỉnh Quảng Ngãi vẫn bám rễ sâu vào lòng đất.

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk, trong những ngày tới địa bàn tỉnh có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và dông, tổng lượng mưa phổ biến từ 100-150mm, có nơi trên 200mm. Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai giải pháp phòng chống thiên tai, đồng thời yêu cầu các hồ chứa chủ động điều tiết nước, đón lũ ứng phó với mưa lớn trong thời gian tới.

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Vũ Việt Văn thông tin, để tiếp tục hoàn thành mục tiêu 10.000 căn nhà ở xã hội, tỉnh đang yêu cầu Sở Xây dựng tiếp tục hướng dẫn chủ đầu tư hoàn tất thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời rút ngắn tối đa thời gian thẩm định quy hoạch, thiết kế, cấp phép xây dựng thuộc thẩm quyền. Các địa phương phối hợp rà soát, điều chỉnh quy hoạch nếu cần thiết, bảo đảm các dự án nhà ở xã hội được triển khai đúng quy hoạch và đồng bộ hạ tầng.

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Năm học mới đã bắt đầu gần một tuần nhưng việc cung ứng sách giáo khoa tại Đắk Lắk vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Phụ huynh học sinh vẫn đang tìm mua để đủ sách cho con, tại một số trường học, học sinh mượn sách của các anh chị khóa trước, dùng chung sách với bạn để duy trì việc học.

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán nhưng lựa chọn gắn bó với lĩnh vực nuôi cấy mô thực vật, anh La Minh Phúc, dân tộc Dao, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) đã từng bước xây dựng cơ sở nuôi cấy mô của riêng mình. Hành trình chuyển hướng nghề nghiệp của anh là câu chuyện về sự kiên trì, dám thử sức với lĩnh vực mới, góp phần quan trọng cung ứng giống cây trồng chất lượng cho địa phương.

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Ngày 9/9, Đoàn công tác của Bộ Nội vụ và các bộ, ngành liên quan đã đến khảo sát thực tế tại khu vực các xã dự kiến thành lập phường trên địa bàn biên giới, tỉnh Tây Ninh, nhằm đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thành lập phường theo quy định của pháp luật.

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Ngày 9/9, tại phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng (Việt Nam), Đoàn đại biểu Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng và Đoàn đại biểu Tiểu khu Quân sự tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia tổ chức Hội đàm.

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Từ ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cán bộ xử lý công việc đến hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, các xã miền núi thành phố Đà Nẵng đang từng bước đưa chuyển đổi số vào những công việc thiết thực của chính quyền và đời sống.