Biểu tượng hoa văn trên bộ trang phục của người Tà Ôi

Biểu tượng hoa văn trên bộ trang phục của người Tà Ôi
Để làm nên một bộ trang phục của người Tà Ôi, hết sức công phu từ công đoạn tìm và tạo chất liệu vải cho đến vật liệu bộ khung dệt và dệt. Dệt những bộ trang phục thông thường đã khó và khi chèn cườm lại càng khó hơn. Bởi lẽ những nét hoa văn họ sáng tạo ra không chỉ để trang trí thuần túy mà còn mang biểu tưởng của một xã hội tộc người...

Biểu tượng cuộc sống qua hoa văn trên trang phục của dân tộc Ta Ôi có thể chia làm 8 loại chủ yếu sau:

Biểu tượng cố kết cộng đồng: gồm có 6 hình ảnh tiêu biểu. Đó là Trmóq pakoóm - “Tương hợp, giao hòa”, Karboóq trmóq - “Đoàn kết một lòng”, Siteeng teeng r-al - Liên kết tỏa sáng, Siteeng teeng pakhâm - “Liên kết bền vững”, charbeeng - “Cầu nối đơn”, Charbeeng kloak - “Cầu nối đôi”. Như chính tên gọi, các hình ảnh trên quy tụ thể hiện tính cố kết ở mọi phương diện cuộc sống để cùng tồn tại và phát triển. Và đó cũng là đặc trưng đáng trân trọng và cần khai thác triệt để để tiếp tục làm nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội Ta Ôi thời hiện đại.

Biểu tượng lao động và sản phẩm lao động:  là chuỗi hình ảnh về phương tiện lao động, sản phẩm lao động và vai trò lao động của người phụ nữ. Hình ảnh về phương tiện lao động gồm: Kanooi - “Cái ổ” để chăn nuôi; Apơat - “Cái trỉa” để trồng trọt; Apoóh tiho - “Bẫy sập”, Aram - “Cái đơm”, Anoók - “Cái xúc cá”, Mbeen - “Cái lưới” để săn bắt; Karta - “Cầu thang” để cất giữ, sấy khô lương thực, thực phẩm. Hình ảnh về sản phẩm lao động có thể từ việc trồng trọt mà có như Tôm a-úm - “Cây ngô”, Tôm khăn - “Cây sắn”, Tôm aro - “Cây lúa”, Kallong atuang - “Hạt đậu” nhưng cũng có thể hái lượm sản vật rừng núi sông suối như Abăng - “Mụt măng”, Pir Arui - “Hoa đỗ quyên”, Kartoonh - “Rau rớn”,.... Hình ảnh thể hiện vai trò lao động của người phụ nữ duy nhất là Klikloóh - “Đàn bà giã gạo” hay cũng chính là hình ảnh Mẹ lúa. Trong lao động để tạo ra thu nhập thường nhật cho gia đình, cộng đồng, trụ cột lại chính là phụ nữ.

Biểu tượng chiến đấu thể hiện rõ nhất qua 6 hình ảnh: Khêl - cái khiên, Talleau - “cái kiếm”, Kos - “Giáo”, Chiroóng - “Chông”, Tarăh - “Mũi tên”, Karring - “Hàng rào kiên cố”. Nhữnh hình ảnh này vừa là vũ khí giao tranh với đối phương khi xảy ra cuộc chiến vừa là phương tiện bảo vệ, an toàn, ổn định cuộc sống cộng đồng nhưng cũng vừa là thông điệp chủ quyền, sở hữu về một vùng, một khu vực nào đó. Dân tộc Ta Ôi cũng như các dân tộc khác ở vùng Bình Trị Thiên, đã từ lâu dấy lên tinh thần yêu nước thương nòi. Ngay từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng hồi đầu công nguyên dưới cái tên người Lý ở vùng Ô Lý, người Ta Ôi đã cùng hợp lực nhất tề đứng lên đánh đuổi giặc Hán. Rồi đến các cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Tây Sơn, chống thực dân Pháp, chống phát xít Nhật và chống đế quốc Mỹ, lòng vẫn không sờn, họ đem cả sức người sức của phục vụ kháng chiến cùng các dân tộc khác của Việt Nam. Chỉ bằng những thứ vũ khí thô sơ ấy mà đã có bao nhiêu người con Ta Ôi lập nên kì tích. Anh hùng liệt sĩ A Vâu (xã Hồng Kim, huyện A Lưới), đã đào hố thả chông, đặt bẫy giết nhiều tên Mỹ, nguỵ; Hồ Thị Đơm (xã A Ngo, huyện A Lưới), đặt chông, hái lá rừng ủ men thả vào đoạn sông mà kẻ thù thường xuyên uống ăn,...

Biểu tượng Ẩm thực:  bao gồm những hình ảnh về món bánh đặc trưng là Akoat - “Bánh sừng”; những thực phẩm ưu chuộng và phổ biến như Chipos ntroi - “Cựa gà”, Chiris asiu - “Xương cá”; những vật chứa gia vị mang đậm cốt cách của vùng sâu lạnh như Parrúk prík - “Mấu nhồi ớt”, Chipar prík - “Hũ ớt” và những loại cây cho nước làm thành rượu uống như Atao - “Rượu Aveat”, Ala Pardin - “Rượu đình đình”, Ala Tuvak - “Lá đoác”. Cơ cấu ẩm thực của người Ta Ôi tuy không cầu kỳ, đa dạng nhưng độc đáo, riêng có, gắn bó với điều kiện địa lý, địa chí vùng miền rừng núi, khe suối và có độ ẩm cao.

Biểu tượng ca múa nhạc và lễ hội: tuy chỉ thể hiện qua 4 hình ảnh: Ngai Yayăq - “Đàn ông nhảy hội”, Ngai Răm - “Đàn bà múa hội”, Mmoók - Cột lễ”, Abóh oos - “Bếp lửa” nhưng đã toát lên đầy đủ bức tranh dân ca, dân nhạc, dân vũ gắn kết lễ hội truyền thống độc đáo, tâm linh. Ngai yayăq tượng trưng cho sức mạnh phi thường, anh dũng trong chiến đấu với các trở lực và là sự khởi đầu cho mọi nguồn sinh lực hội, lễ cộng đồng. Ngai Răm tượng trưng cho vẻ đẹp hoang sơ, nhu mì, chung thủy và nặng gánh gia đình của người phụ nữ vùng cao. Mmoók tượng trưng cho điểm tương giao, hội ngộ giữa con người và thần linh bảo hộ, chở che, minh giám diễn tiến cuộc sống cộng đồng. Abóh oos là mạch máu cơ thể cộng đồng, là mạch sống sinh sôi, ấm áp xuyên thời gian. 

Để làm nên một bộ trang phục của ngươi Tà Ôi hết sức công phu.
Để làm nên một bộ trang phục của ngươi Tà Ôi hết sức công phu.

Biểu tượng truyện cổ: được sơn nữ Ta Ôi chú tâm khai thác và thể hiện đa dạng nhưng chủ yếu có các hình ảnh sau: Ngkoang katíng - “Dốc parsee - dốc tình yêu bất tử”, Pir pang - “Truyện cổ tích Pir Choonh”, Trangâu plôm - “Truyện cổ tích Pir Tulíq”, Kineang Tring - “Chương Kalang Niêt Ka trong sử thi Achât). Ngkoang Katíng là nơi ghi lại chuyện tình bất tử của một chàng trai mồ côi, nghèo khổ với một cô gái nhà giàu, xinh đẹp nhất làng. Pir Pang là cô gái mang tên loại hoa rừng mỹ miều, chăm ngoan và giỏi dang việc bếp núc, nương rẫy khiến nhiều chàng trai tứ xứ si mê, theo đuổi và cuối cùng chàng trai mồ côi, vạm vỡ, không kém phần giỏi dang đã được nàng chọn làm ý trung nhân. Trangâu plôm là linh hồn của bà phù thuỷ ác độc, cam tâm giành chồng của nàng Pir Tulíq và khiến đến nỗi nàng bị chồng đưa đến ngọn núi cao nhất, xa nhất, không biết đường về nhà, rồi giết chết. Kineang Tring là hình ảnh hung dữ, tàn bạo, ăn thịt người của cha mẹ nàng Thiên Nga xinh đẹp trên không trung đã bị chàng Achât hạ bệ sau khi lập mưu, tính kế một cách cẩn trọng.

Biểu tượng tổ tông, dòng họ:  có khá nhiều hình ảnh nhưng tiêu biểu là Kooi rét (con Kì Đà) - “Họ Blup Akôl”, Kiring (cá Kiring ở suối sâu) - “Họ Kiring”, Pile pis (quả bưởi) - “Họ Kansoaiq”, Piriu (quả Piriu trong rừng) - “Họ Piriu”, Parlong (quả dâu rừng) - “Họ Parlong”, Adeeng (lá môn thục) - “Họ Adeeng”, Apăl (cối giã) - “Họ Apăl”. Những hình ảnh thể hiện tổ tông, dòng họ đa dạng về thể loại (động vật, thực vật, đồ vật...) và khi xướng danh có thể nhằm tôn thờ hoặc kiêng, cữ. 

Biểu tượng siêu nhiên: gồm có 4 hình ảnh đặc tả những vị thần hiện hữu thường trực trong thế giới tâm linh của cộng đồng người Ta Ôi: Vavak (bươm bướm) - “Linh hồn tổ tiên”, Aseap (con dơi) - “Thần hộ vệ trừ tà ma”, Adang (con nhện) - “Thần hộ vệ trừ bệnh tật”, Chidoang avang (đuôi chim én) - “Thần mùa xuân”.

Càng đi sâu vào thế giới hoa văn trên trang phục truyền thống càng có nhiều điều đáng nói về bản sắc văn hoá dân tộc Ta Ôi ở đủ các bình diện (văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, văn hoá xã hội), sống động mà êm ả, cầu kỳ mà thanh nhã. Xâu chuỗi 8 loại biểu tượng hoa văn đã nêu trên, chúng ta nhìn thấy toàn cảnh bức tranh xã hội dân tộc Ta Ôi. Chỉ việc chèn kết những đoạn thẳng, những hình răng cưa mà chủ đạo là hình tam giác, vô tình, nữ Ta Ôi đã trở thành người gìn giữ và truyền tải một phần kho báu văn hoá của dân tộc mình.
Theo dantocviet.cinet.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Ngày 13/9, tại sân đua bò Chùa Rô (xã An Cư, tỉnh An Giang), UBND xã An Cư, Ban Quản trị Chùa Rô phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (VTV Nam Bộ) tổ chức Hội đua bò truyền thống Chùa Rô lần thứ XII năm 2026.

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Múa kỳ lân không chỉ tạo không khí rộn ràng trong những ngày lễ, Tết, mà còn thể hiện tinh thần thượng võ, khát vọng về cuộc sống bình an, no đủ của đồng bào Nùng. Loại hình nghệ thuật dân gian này đang được gìn giữ, quảng bá như một nét văn hóa đặc sắc của vùng cao Cao Bằng.

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa của người Nùng tại Cao Bằng được tổ chức vào “đắp nọi”, ngày cuối cùng của tháng Giêng âm lịch hằng năm. Nghi lễ truyền thống thể hiện lòng biết ơn thần linh, gửi gắm ước vọng về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản làng bình an, no ấm.

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Giàng Thị Sinh, cô gái dân tộc Mông vùng cao ở xã Sà Phìn (Tuyên Quang), đạt 27,31 điểm khối C00 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 và trúng tuyển ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội. Với Sinh, kết quả ấy là niềm vui sau những năm tháng cố gắng và cũng là bước đầu để em theo đuổi ước mơ trở thành cô giáo.

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.