Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

7.jpg
Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ.

Rộn ràng lễ hội truyền thống

Sáng 23/8, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Hà Nội), Lễ hội Thắk Côn, hay còn được biết đến với tên gọi Lễ hội Cúng Dừa của đồng bào Khmer thành phố Cần Thơ đã được tái hiện. Đây là hoạt động tâm điểm trong chuỗi sự kiện tháng 8 mang chủ đề “Về miền Tây qua nét văn hóa của đồng bào Khmer” của Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ tổ chức nhằm tôn vinh và lan tỏa giá trị của Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đến gần hơn với nhân dân Thủ đô và du khách quốc tế.

Từ sáng sớm, không gian Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã trở nên náo nhiệt bởi sự xuất hiện của nghệ nhân, nghệ sĩ, Achar và các vị sư đến từ thành phố Cần Thơ, đưa người xem đắm chìm vào một hành trình văn hóa đậm chất Nam Bộ.

Mạch cảm xúc của buổi lễ được dẫn dắt qua những nghi thức cổ truyền trang nghiêm, phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa đời sống tâm linh và sản xuất nông nghiệp. Chương trình tái hiện giới thiệu một số nghi thức tiêu biểu của lễ hội như nghi lễ khất thực, nghi lễ thượng kỳ khai hội, nghi lễ hát cúng và cúng Dừa, dâng lễ vật, hát cúng cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống an lành, hạnh phúc, nghi lễ tống tiễn, nghi lễ rắc tro…

2.jpg
Các nghi thức cổ truyền trang nghiêm phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa đời sống tâm linh và sản xuất nông nghiệp.

Đặc biệt, nghi thức Cúng Krông Pali (Thần Đất), lễ Đăk Bath khất thực dâng cơm cho chư tăng, lễ dâng Sla Tho dừa cầu an, múa hát dâng lên Kru Kôông - Chey và các nghi lễ Phật giáo, đã thu hút sự chú ý của đông đảo du khách. Những trái dừa tươi được thành kính dâng lên Phật và các vị Chư thiên, gửi gắm ước nguyện về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và bình an cho xóm làng.

Đứng giữa dòng người xem lễ hội từ sáng sớm, anh Nguyễn Quốc Trung (phường Yên Nghĩa, Hà Nội), cho biết: bản thân cảm thấy vô cùng ấn tượng trước sự trang nghiêm của các nghi thức cổ truyền. Việc tận mắt chứng kiến các vị sư và nghệ nhân thực hiện lễ dâng dừa cầu an mang lại cho anh một cảm giác linh thiêng và gần gũi đến lạ thường. Chương trình phục dựng này không chỉ là một buổi trình diễn đơn thuần mà còn là cơ hội quý báu để người dân Thủ đô có thể chạm vào những giá trị tinh thần chân thực của đồng bào Khmer mà không cần phải đi xa hàng nghìn cây số.

Kỳ bí tích cổ Khmer

Sức hấp dẫn của Lễ hội Thắk Côn còn nằm ở những tích cổ kỳ bí về chiếc Kôông - Chey (chiếc cồng) huyền thoại.

Theo những bậc cao niên, từ xa xưa, có một chiếc thuyền buôn đi ngang qua vùng đất này. Chẳng may thuyền bị đâm va, thủng đáy rồi chìm sâu xuống đáy sông. Trải qua thời gian dài, lòng sông dần bồi đắp thành vùng đất cao. Người dân Khmer đến đây sinh sống yên bình, hằng ngày cày cấy, trồng trọt sinh sống.

3.jpg
Cận cảnh những trái dừa tươi được trang trí hoa giấy ngũ sắc, vật phẩm quan trọng nhất của lễ hội Thắk Côn.

Điều kỳ diệu nhất là ngay tại nơi chiếc thuyền xưa kia bị chìm, người dân đã đào được một chiếc Kôông - Chey rất lớn. Họ chôn chiếc Kôông - Chey xuống đất trở lại để cất giữ. Tình cờ, khi các bác nông dân bước chân đè lên đúng vị trí chôn chiếc Kôông - Chey, một âm thanh vang dội rền vang phát ra. Mọi người vô cùng kinh ngạc, vội vã đào bới tìm kiếm nhưng lại không thấy chiếc Kôông - Chey đâu nữa. Kỳ lạ thay, khi trở về nhà, những người nông dân đó làm việc gì hay cầu nguyện điều gì cũng đều được như ý nguyện.

Về sau, có một phụ nữ mang thai mong muốn bản thân có sức khỏe để sinh con thuận lợi, cô ấy đã bước chân lên vùng đất đó. Ngay lập tức, tiếng Kôông - Chey nhỏ dần, rồi biến mất hoàn toàn từ đó cho đến tận ngày nay.

Niềm tin tâm linh này đã khắc sâu vào tâm người Khmer. Vì vậy, họ ấn định ngày 15, 16 và 17 tháng 3 Âm lịch hằng năm để tổ chức Lễ hội Thăk Côn nhằm cầu bình an và khấn nguyện những điều may mắn.

Lan toả giá trị di sản

Bên cạnh phần lễ, chương trình giao lưu “Về miền Tây” cũng đã tạo nên một không gian hội hè sôi động. Những âm sắc độc đáo của dàn nhạc ngũ âm hòa quyện cùng nhịp trống Sa dăm rộn rã đã thắt chặt tình cảm du khách cùng bà con Khmer hòa mình vào điệu múa Rom Vong uyển chuyển.

11.jpg
Không gian giao lưu văn hóa nghệ thuật dân gian sôi động với những lời ca, điệu múa ca ngợi quê hương.

Các hoạt động trải nghiệm thực tế như quết cốm dẹp truyền thống và thưởng thức những món ăn dân dã đặc trưng như bánh xèo, bánh cống thu hút đông du khách tham gia. Sự kết hợp giữa lễ hội truyền thống, biểu diễn nghệ thuật và giao lưu ẩm thực đã xóa nhòa khoảng cách địa lý, mang đến một không gian Nam Bộ chân thật đến với du khách Thủ đô.

Chị Trần Diệu Linh (xã Thiên Lộc, Hà Nội) bày tỏ sự thích thú khi được đắm mình trong âm vang rộn rã cùng người dân Khmer đến từ Cần Thơ. Chị Trần Diệu Linh chia sẻ: "Hương vị đặc trưng của ẩm thực Cần Thơ như đưa tôi về với vùng sông nước Nam Bộ". Với nữ du khách Thủ đô, đây là một trải nghiệm văn hóa đặc sắc, giúp mỗi du khách thêm trân trọng sự đa dạng và giàu có của bản sắc dân tộc Việt Nam.

Diễn ra từ ngày 1/8 - 28/8, chuỗi sự kiện “Về miền Tây qua nét văn hóa của đồng bào Khmer” có sự tham gia của hơn 100 đồng bào thuộc 16 dân tộc đến từ 11 địa phương, đang hoạt động thường xuyên tại Làng cùng khoảng 30 nghệ nhân, diễn viên đồng bào Kinh và Khmer thành phố Cần Thơ, mang đến cho du khách Thủ đô có cái nhìn chân thực nhất về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số miền Tây ngay tại Hà Nội.

10.jpg
Nghi lễ còn thu hút đông đảo bà con dân tộc Dao đến dự lễ.
8.jpg
Từ sáng sớm, không khí chuẩn bị cho lễ hội rất náo nhiệt, khẩn trương.
9.jpg
Mâm cỗ cúng được chuẩn bị công phu để dâng lên các vị thần linh.
6.jpg
Đồng bào dân tộc Khmer thành kính thực hiện nghi lễ cầu nguyện.
4.jpg
Dàn nhạc ngũ âm của đồng bào Khmer với những âm sắc độc đáo.
5.jpg
Các thiếu nữ Khmer trong trang phục truyền thống hát giao lưu cùng khán giả.

​

Minh Ngọc/Báo Tin tức và Dân tộc
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Thái Nguyên: Mùa vàng trên Bản Tèn

Thái Nguyên: Mùa vàng trên Bản Tèn

Với khí hậu mát mẻ, giao thông thuận lợi, bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo… Bản Tèn, xã Văn Lăng, tỉnh Thái Nguyên, hội tụ nhiều đặc điểm để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm, đặc biệt là mùa lúa chín vào khoảng tháng 10 hàng năm.

Về Tuyên Quang bắt cá bằng tay

Về Tuyên Quang bắt cá bằng tay

Xuống ruộng bắt cá bằng tay, tìm hiểu cách chế biến món ăn truyền thống, tham quan những gian hàng nông sản và hòa vào sinh hoạt văn hóa của người Tày là những hoạt động được xã Mậu Duệ, tỉnh Tuyên Quang đưa vào Lễ hội Tết cá năm 2026.

Khám phá sắc màu thiên nhiên và văn hóa nơi vùng cao Pu Nhi

Khám phá sắc màu thiên nhiên và văn hóa nơi vùng cao Pu Nhi

Cách trung tâm hành chính tỉnh Điện Biên khoảng 30km, xã Pu Nhi hấp dẫn du khách bởi những thửa ruộng bậc thang mùa lúa chín, cảnh sắc núi rừng mùa thu và những giá trị văn hóa truyền thống được đồng bào Mông gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Rộn ràng chương trình mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 tại TP Cần Thơ

Rộn ràng chương trình mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 tại TP Cần Thơ

Sáng 11/10/2026, tại Chùa Đay Om Pu (xã Gia Hòa), thành phố Cần Thơ tổ chức chương trình truyền hình trực tiếp mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 với chủ đề “Gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy sức mạnh đoàn kết, kiến tạo tương lai”. Hoạt động nhằm lan tỏa không khí rộn ràng, đầm ấm của ngày lễ lớn đến với đông đảo đồng bào Khmer.

Người trẻ kể chuyện văn hóa Khmer để lan tỏa bản sắc dân tộc

Người trẻ kể chuyện văn hóa Khmer để lan tỏa bản sắc dân tộc

Ngày 10/10, tại TP Hồ Chí Minh, vlog “Sắc Khmer” được giới thiệu, ghi lại hành trình học sinh tìm hiểu lễ Sene Dolta và sinh hoạt tại chùa Kh’leang. Hoạt động hướng đến giúp thanh thiếu niên tham gia giới thiệu văn hóa cộng đồng bằng trải nghiệm và lời kể của mình.

Hướng về cội nguồn, kết nối di sản giữa lòng Thủ đô

Hướng về cội nguồn, kết nối di sản giữa lòng Thủ đô

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ là lời tri ân sâu sắc đối với các bậc tiền nhân, mà còn là sợi dây tâm linh gắn kết những người con đất Việt. Việc gìn giữ và trao truyền những giá trị di sản là cách tiếp nối và bồi đắp dòng chảy văn hóa dân tộc.

Hội đua bò Bảy Núi lan tỏa giá trị văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ

Hội đua bò Bảy Núi lan tỏa giá trị văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ

Ngày 10/10, tại sân đua bò xã An Cư (gần chùa Thơ Mít), Sở Văn hóa, Thể thao tỉnh An Giang phối hợp với Báo và Phát thanh - Truyền hình An Giang, UBND xã An Cư tổ chức Hội đua bò Bảy Núi tranh cúp Truyền hình An Giang lần thứ 31 năm 2026. Sự kiện thu hút hàng nghìn lượt người dân, du khách trong và ngoài nước đến theo dõi, cổ vũ, góp phần tôn vinh nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer Nam Bộ.

Lễ hội Katê - Kết nối di sản trong dòng chảy văn hóa đương đại

Lễ hội Katê - Kết nối di sản trong dòng chảy văn hóa đương đại

Sáng 10/10, tại Tháp Pô klong Garai (phường Đô Vinh), đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tại Khánh Hòa cùng đông đảo người dân, du khách hòa mình vào những nghi lễ truyền thống đặc sắc của Lễ hội Katê năm 2026. Tiếng trống Ginăng, Paranưng, tiếng kèn Saranai cùng những điệu múa Chăm tạo nên không khí lễ hội vừa trang nghiêm, vừa vui tươi.

Điện Biên mở hội, sắc màu văn hóa Mông cùng tỏa sáng

Điện Biên mở hội, sắc màu văn hóa Mông cùng tỏa sáng

Tối 9/10, tại Quảng trường 7/5, phường Điện Biên Phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với tỉnh Điện Biên tổ chức khai mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Mông – Hội tụ và tỏa sáng”. Sự kiện nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mông; góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc trong đời sống hiện đại. Đây cũng là dịp giới thiệu hình ảnh Điện Biên, tăng cường giao lưu giữa các địa phương có đồng bào Mông sinh sống, thúc đẩy kết nối văn hóa với phát triển du lịch.

Mùa vàng trải sóng ở Hoàng Su Phì

Mùa vàng trải sóng ở Hoàng Su Phì

Về thu, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì khoác sắc vàng óng ả, từng lớp ruộng men theo sườn núi, uốn quanh mái nhà, nối nhau như những đợt sóng giữa đại ngàn.

Đặc sắc Lễ hội Cốm Co Giàng

Đặc sắc Lễ hội Cốm Co Giàng

Trong 2 ngày 9-10/10, người dân và du khách được trải nghiệm không gian văn hóa dân tộc Thái tại xã Pắc Ta (tỉnh Lai Châu) trong “Lễ hội Cốm Co Giàng” lần thứ I. Đây cũng là dịp để địa phương quảng bá sản vật, cảnh quan và tiềm năng du lịch.

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Những đường thêu rực rỡ trên trang phục truyền thống, nét vẽ sáp ong trên vải lanh, tiếng búa rèn, nhịp giã bánh dày cùng các trò chơi dân gian tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 ở Điện Biên. Qua các hoạt động trưng bày, trình diễn và trải nghiệm, những giá trị truyền thống được tái hiện sinh động, góp phần lan tỏa bản sắc văn hóa và gợi mở hướng bảo tồn gắn với phát triển, nâng cao đời sống đồng bào.