Từ tiếng khèn Mông giữa miền đá, điệu Then bên những nếp nhà sàn, nghi lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn đến nghề thủ công, ẩm thực và các không gian văn hóa cộng đồng, Tuyên Quang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Khi những giá trị này được kết nối với du lịch, công nghệ, sản phẩm OCOP, dịch vụ sáng tạo và thị trường tiêu dùng, văn hóa đang mở ra một không gian kinh tế mới. Mục tiêu đến năm 2030, doanh thu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp ít nhất 5% GRDP cho thấy Tuyên Quang đang từng bước chuyển lợi thế di sản thành sản phẩm, việc làm và giá trị gia tăng.
Từ tài nguyên văn hóa đến giá trị kinh tế
Sau hợp nhất, Tuyên Quang có 46 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 70% dân số. Toàn tỉnh hiện có 794 di tích, 871 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, trong đó 53 di sản thuộc Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 135 lễ hội, trong đó 113 lễ hội truyền thống được duy trì thường xuyên. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn và di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh tạo thêm những lợi thế có khả năng thu hút dòng khách, đầu tư và các hoạt động dịch vụ đi kèm.
Từ góc độ kinh tế, giá trị của kho tàng di sản không nằm ở số lượng mà ở khả năng tạo ra sản phẩm, thị trường và thu nhập. Một lễ hội nếu chỉ dừng ở sinh hoạt cộng đồng sẽ có phạm vi tác động hạn chế; một nghề thủ công nếu không gắn với thiết kế, thương hiệu và thị trường sẽ khó nâng giá trị. Vì vậy, bài toán của Tuyên Quang là tổ chức lại các nguồn lực văn hóa theo hướng hình thành chuỗi giá trị, trong đó người dân là chủ thể cung cấp sản phẩm, doanh nghiệp tham gia kết nối thị trường và chính quyền tạo môi trường phát triển.
Nghi lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn là một ví dụ. Từ một nghi thức tâm linh trong cộng đồng, những năm gần đây, các đội Nhảy lửa đã tham gia nhiều sự kiện văn hóa tại Hà Nội và các địa phương. Riêng đội Nhảy lửa thôn Thượng Minh, xã Minh Quang có chương trình biểu diễn được trả thù lao từ 6 đến 20 triệu đồng. Khoản thu chưa lớn, song cho thấy khi một giá trị truyền thống được tổ chức thành sản phẩm biểu diễn, nó có thể tạo thêm thu nhập cho chính những người đang thực hành di sản.
Câu chuyện tương tự đang diễn ra ở nhiều vùng trong tỉnh. Tiếng khèn, nghề thêu của người Mông; Sình ca của người Cao Lan; nghề dệt thủ công của đồng bào Pà Thẻn; Then, đàn tính của người Tày; kiến trúc nhà trình tường, trang phục của người Lô Lô; chè Shan tuyết, dược liệu, ẩm thực truyền thống… đang dần bước ra khỏi phạm vi bản làng, hiện diện trong tour du lịch, không gian trải nghiệm, hàng hóa OCOP và hoạt động truyền thông số. Khi được gắn với câu chuyện bản địa và định vị thương hiệu, giá trị của sản phẩm được mở rộng so với hình thức tiêu dùng thuần túy.
Theo ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa trong giai đoạn mới với tư duy rộng hơn, gắn chặt hơn giữa văn hóa với kinh tế và phát triển con người. Với Tuyên Quang, nguồn tài nguyên văn hóa phong phú là lợi thế đặc biệt, nhưng tiềm năng chỉ thực sự chuyển thành nguồn lực khi có sản phẩm, có thị trường và người dân được tham gia, được hưởng lợi.
Ở vùng cực Bắc của tỉnh, Lũng Cú cho thấy khá rõ cách văn hóa tham gia vào kinh tế địa phương. Bên cạnh Cột cờ quốc gia và cảnh quan Cao nguyên đá, những ngôi nhà trình tường, trang phục truyền thống, nghề thêu, ẩm thực và nhịp sống của cộng đồng tạo nên sản phẩm du lịch có tính khác biệt. Lô Lô Chải từ một bản làng vùng biên đã trở thành điểm đến được du khách trong và ngoài nước biết tới, kéo theo nhu cầu về lưu trú, ăn uống, vận chuyển, sản phẩm thủ công và nông sản địa phương.
Ông Trần Đức Chung, Chủ tịch UBND xã Lũng Cú cho rằng, mục tiêu của địa phương không chỉ là tăng lượng khách mà phải nâng giá trị thu được từ mỗi lượt khách. Muốn vậy, người dân cần trực tiếp tham gia chuỗi dịch vụ, từ homestay, ẩm thực đến bán sản phẩm bản địa, đồng thời giữ được kiến trúc, nghề truyền thống và phong tục tạo nên bản sắc của điểm đến.
Toàn tỉnh hiện có 54 làng văn hóa du lịch cộng đồng, trong đó 28 làng đủ điều kiện phục vụ khách; một số điểm đến như Nặm Đăm, thôn Tha, Lô Lô Chải đã tạo được dấu ấn. Cùng với đó là 357 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Chè Shan tuyết, thổ cẩm, dược liệu, nông sản và ẩm thực truyền thống đang từng bước được đặt trong chuỗi giá trị du lịch - thương mại - tiêu dùng, giúp mở rộng thị trường và nâng mức chi tiêu của khách.
Mở thị trường cho sản phẩm sáng tạo
Nếu Lũng Cú cho thấy khả năng tạo giá trị từ văn hóa miền đá thì ở Thượng Lâm, vùng hồ sinh thái Na Hang - Lâm Bình, lợi thế lại nằm ở sự kết hợp giữa cảnh quan, văn hóa Tày và hệ thống sản phẩm bản địa. Những nếp nhà sàn, tiếng đàn tính, điệu Then, ẩm thực, nghề thủ công và sản vật địa phương đang trở thành một phần của chuỗi dịch vụ, từ lưu trú, ăn uống, trải nghiệm đến mua sắm.
Ông Ma Công Khâm, Chủ tịch UBND xã Thượng Lâm cho biết, địa phương xác định văn hóa và cảnh quan là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế nông thôn. Vì vậy, xã khuyến khích người dân duy trì kiến trúc truyền thống, các đội văn nghệ, làn điệu dân ca, ẩm thực bản địa; kết nối sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và nghề truyền thống với hoạt động du lịch cộng đồng. Mục tiêu là tăng thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu và tạo thêm việc làm tại chỗ, thay vì chỉ dựa vào lượng khách tham quan.
Từ Lũng Cú đến Thượng Lâm cho thấy dư địa của công nghiệp văn hóa nằm ngay trong cộng đồng, song để chuyển thành giá trị kinh tế lớn hơn cần thay đổi cách tổ chức sản phẩm. Một tấm thổ cẩm sẽ khó mở rộng thị trường nếu thiếu thiết kế phù hợp; một lễ hội khó tạo thêm nguồn thu nếu không gắn với dịch vụ; một làng văn hóa khó giữ chân khách nếu thiếu chuỗi trải nghiệm. Công nghiệp văn hóa vì thế đòi hỏi sự kết nối giữa người nắm giữ di sản với doanh nghiệp, nhà thiết kế, công nghệ, truyền thông và hệ thống phân phối.
Tuyên Quang hiện có 1.478 cơ sở lưu trú với hơn 14.200 phòng, 52 doanh nghiệp lữ hành. Các tuyến du lịch đang từng bước kết nối Di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào, Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Trong 7 tháng năm 2026, tỉnh đón hơn 2 triệu lượt khách, trong đó trên 406 nghìn lượt khách quốc tế; tổng doanh thu du lịch đạt trên 5.857 tỷ đồng.
Theo ông Nguyễn Trung Ngọc, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, tỉnh xác định bảo tồn phải gắn với phát huy, lấy cộng đồng làm chủ thể; đồng thời kết nối văn hóa với công nghệ, du lịch và các ngành công nghiệp sáng tạo để gia tăng giá trị của di sản trong đời sống đương đại. Đây là hướng quan trọng để từng bước chuyển nguồn tài nguyên văn hóa thành sức mạnh nội sinh cho tăng trưởng bền vững.
Để hình thành một thị trường công nghiệp văn hóa thực chất, nguồn nhân lực cũng là yếu tố then chốt. Năm 2025, toàn tỉnh duy trì 14 câu lạc bộ văn hóa với 1.272 buổi sinh hoạt; nhiều lớp truyền dạy Then, đàn tính, khèn Mông và nghệ thuật truyền thống được tổ chức. Sáu tháng đầu năm 2026, Trung tâm Văn hóa và Điện ảnh tỉnh tiếp tục mở 26 lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ văn hóa cơ sở.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP cả nước. Cụ thể hóa mục tiêu này, Tuyên Quang phấn đấu doanh thu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp ít nhất 5% GRDP vào năm 2030. Để đạt được con số đó, tỉnh còn nhiều việc phải làm, từ hoàn thiện cơ chế, thu hút doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực sáng tạo đến xây dựng thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, ứng dụng công nghệ số và mở rộng thị trường.
Quan trọng hơn là phải tạo được những sản phẩm có khả năng tiêu thụ ổn định. Khi một điệu Then trở thành chương trình biểu diễn có khán giả; một tấm thổ cẩm trở thành sản phẩm thiết kế có thương hiệu; một món ăn truyền thống bước vào chuỗi dịch vụ du lịch; một lễ hội tạo thêm nhu cầu lưu trú, vận chuyển và mua sắm, khi ấy văn hóa mới thực sự tham gia vào quá trình tạo giá trị gia tăng.
Mục tiêu 5% GRDP vì thế không đơn thuần là một chỉ tiêu về văn hóa. Đó là yêu cầu chuyển những lợi thế rất lớn về di sản và bản sắc của Tuyên Quang thành sản phẩm, thị trường, việc làm và nguồn thu. Từ kho tàng được bồi đắp qua nhiều thế hệ, một không gian tăng trưởng mới đang mở ra, nơi bảo tồn và kinh doanh có thể song hành, để văn hóa vừa giữ được căn cốt, vừa trở thành một bộ phận ngày càng rõ nét của nền kinh tế địa phương./.
Tên tự gọi: Pà Hưng.
Tên gọi khác: Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Ðỏ, Bát tiên tộc...
Dân số: 6.811 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc ngữ hệ Hmông-Dao.
Lịch sử: Theo truyền thuyết, người Pà Thẻn ở vùng Than Lô (Trung Quốc) đến Việt Nam cách đây khoảng 200-300 năm với câu chuyện vượt biển cùng người Dao.
Hoạt động sản xuất: Trước kia người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nương rẫy. Phương thức canh tác là phát đốt rồi chọc lỗ, tra hạt. Cây trồng gồm lúa, ngô và các loại rau, đậu, khoai sọ, khoai môn. Công cụ sản xuất là rìu, cuốc, dao. Do sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, nhất là những lúc mất mùa, giáp hạt, người Pà Thẻn vẫn phải lên rừng đào củ mài, củ nâu... Vì thế hái lượm còn đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế. Nghề dệt của họ có từ lâu đời, sản phẩm dệt được nhiều dân tộc xung quanh ưa thích. Ðàn ông thường đan lát, làm mộc. Người Pà Thẻn chăn nuôi các loại gia súc và gia cầm như: trâu, bò, dê, lợn, gà. Ngoài phục vụ nhu cầu sức kéo, chăn nuôi còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và lễ nghi tôn giáo.
Ăn: Người Pà Thẻn chủ yếu ăn cơm tẻ, ngày hai bữa chính, thích các món ăn luộc hay xào.
Mặc: Bộ trang phục của phụ nữ Pà Thẻn còn giữ được nhiều yếu tố riêng. Bộ trang phục của phụ nữ gồm: áo, váy, khăn trong và khăn ngoài, màu sắc rất sặc sỡ. Một số mô típ trang trí trên quần áo của họ cũng gần giống như của người Dao.
Ở: Hiện họ cư trú tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Tuỳ từng nơi, người Pà Thẻn quen ở nhà sàn, nhà nền đất hay nửa sàn nửa nền đất. Hiện nay nhiều nơi đồng bào đã dựng nhà cột kê khang trang, vững chãi.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là cách vận chuyển chính của người Pà Thẻn.
Quan hệ xã hội: Quan hệ xóm giềng giữ vai trò chủ đạo. Thôn xóm hoà thuận, các gia đình thường quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, đổi công cho nhau những lúc thời vụ hay những công việc cần lao động. Trong một bản của ngươi Pà Thẻn có nhiều dòng họ cùng cư trú, trong đó thường có một dòng họ lớn nhất. Người Pà Thẻn có 8 họ gốc và một số họ khác của ngươi Dao (Bàn, Triệu). Mỗi họ chia ra nhiều chi họ gắn với truyền thuyết riêng.
Cưới xin: Gia đình một vợ một chồng bền vững. Việc lấy nhau giữa những người cùng họ bị nghiêm cấm ngặt. Rất hiếm các trường hợp người chồng lấy vợ hai, vợ chồng ít khi ly dị. Việc ngoại tình bị xã hội lên án. Từ khi dạm hỏi cho đến lễ cưới phải qua nhiều nghi lễ. Có hai hình thức ở rể là ở rể tạm thời (tối đa 12 năm) và ở rể đời - sang ở hẳn bên nhà vợ, con mang họ mẹ.
Ma chay: Khi có người chết thì người nhà bắn ba phát súng báo hiệu, sau đó tiến hành khâm liệm. Lễ vật dùng cho đám ma do con đã có chồng đưa đến phúng viếng. Mỗi người viếng một con lợn khoảng 25 kg, nhà nghèo thì chỉ 7 con gà trống. Quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng. Trong quan tài có đổ gạo rang, phủ giấy bản rồi mới đóng chốt hạ huyệt.
Thờ cúng: Người Pà Thẻn tin vào sự tồn tại của các siêu linh, vạn vật có linh hồn. Ma quỷ, thần thánh gồm hai loại: lành dữ. Loại lành gồm các thần ở trên trời, tổ tiên, thổ địa...; loại ma dữ như ma sông, ma suối, ma của người chết bất đắc kỳ tử... chúng thường phá hoại mùa màng, làm hại gia súc.
Chủ yếu là thờ cúng tổ tiên trong nhà. Bàn thờ làm bằng tấm gỗ hình chữ U lộn ngược. Mặt bàn để một bát hương và một bát nước lã. Người Pà Thẻn có nhiều tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp như: cúng trước khi tra hạt, lễ cúng cơm mới. Truyền thuyết về sự xuất hiện của cây lúa là do 3 con vật: chó, mèo, lợn lấy trộm giống lúa trên trời về cho con người, nên khi cúng cơm mới phải cho 3 con vật trên ăn trước. Khi hạn hán lâu, dân bản làm lễ cầu mưa. Các nghi lễ liên quan đến chăn nuôi, săn bắn cũng được chú trọng.
Lễ tết: Người Pà Thẻn ăn tết nguyên đán và các tết như các dân tộc khác ở vùng Ðông Bắc.
Lịch: Vận dụng âm lịch trong sản xuất, đời sống.
Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Nôm Tày, Nùng.
Văn nghệ: Ðời sống văn nghệ phong phú như ca hát, thổi sáo và các trò chơi dân gian.
Theo cema.gov.vn