Không chỉ lưu giữ nét đẹp văn hóa lâu đời của đồng bào Hre và Ca Dong, những sản phẩm thủ công mộc mạc này đang đứng trước cơ hội mới để trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng, mở ra hướng đi thiết thực trong việc bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế.
Bền bỉ “giữ lửa” nghề truyền thống
Từ bao đời nay, tre, nứa và mây đã trở thành những nguyên liệu quen thuộc gắn liền với đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc thiểu số tại Quảng Ngãi. Những loài cây mọc bên suối, sâu trong cánh rừng già qua đôi bàn tay khéo léo, tỉ mỉ và sự kiên trì của người thợ đã hóa thành những chiếc rổ, cái nia, sàng gạo hay những chiếc gùi bền chắc.
Tại xã Sơn Mai, hình ảnh ông Đinh Văn Xếp (73 tuổi) bên gác bếp với những sản phẩm đan lát tinh xảo đã trở thành biểu tượng cho sự tận tụy gắn bó với nghề. Học nghề từ cha từ khi mới 18, 19 tuổi, qua bao thăng trầm của cuộc sống, đến nay ông Xếp vẫn dành phần lớn thời gian để chẻ lạt, vót nan và đan lát.
Theo ông Xếp, để tạo ra một sản phẩm đẹp, bền và cân đối, người thợ phải thật sự tỉ mỉ ngay từ khâu tuyển chọn nguyên liệu. Tre phải đủ độ già, mây phải là loại tốt lấy từ sâu trong rừng. Mỗi công đoạn từ cưa, chẻ, vót nan cho đến khi căn từng mắt đan đều đòi hỏi sự chính xác cao. Có những vật dụng đơn giản như chiếc rổ đựng cơm mất khoảng hai ngày hoàn thành, nhưng với những chiếc gùi phức tạp, người thợ phải mất cả tuần lễ.
Tương tự, tại xã Sơn Tây Thượng, những bậc cao niên như ông Đinh Văn Khoăng (65 tuổi) vẫn miệt mài đem các sản phẩm thủ công ra chợ phiên để giới thiệu đến mọi người. Đối với ông, mỗi chiếc gùi, cái rá, nong hay nia không chỉ là vật dụng mưu sinh mà còn là kết tinh của kinh nghiệm, sự khéo léo được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Trăn trở bài toán bảo tồn
Dẫu mang giá trị văn hóa sâu sắc, nghề đan lát truyền thống hiện đang đối mặt với không ít thách thức. Sự xuất hiện phổ biến của các vật dụng làm từ nhựa và kim loại với giá thành rẻ, sự tiện lợi cao đã khiến đồ đan lát thủ công dần vắng bóng trong không gian bếp của nhiều gia đình. Thêm vào đó, nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng khan hiếm cũng là một bài toán khó. Như lời ông Xếp chia sẻ, mây ở gần làng nay đã cạn kiệt, muốn tìm được dây mây tốt, người thợ phải lặn lội đi sâu vào tận vùng rừng rậm, núi cao.
Thế nhưng, điều khiến những nghệ nhân già trăn trở lớn nhất không phải là sự vất vả khi lên rừng tìm nguyên liệu hay nhọc nhằn qua từng công đoạn, mà là nguy cơ thất truyền khi thế hệ trẻ ngày nay ít mặn mà với nghề này. Cuộc sống hiện đại mở ra nhiều ngã rẽ sinh kế với mức thu nhập ổn định hơn, trong khi nghề đan lát thủ công tốn rất nhiều thời gian nhưng giá trị kinh tế mang lại chưa đủ hấp dẫn để giữ chân người trẻ.
Ông Đinh Văn Khoăng bộc bạch, để làm ra một sản phẩm đẹp đòi hỏi sự kiên trì và tay nghề khéo léo, nhưng nếu thanh niên trong làng không chịu khó học hỏi, những bí quyết chọn nan, bắt mối rồi sẽ trôi theo thời gian. “Cái khó nhất hiện nay là tìm người kế cận, bởi con cháu đi học, đi làm ăn xa hoặc chọn những nghề nghiệp khác, ít ai chịu ngồi hàng giờ bên những nan tre, sợi mây để tỉ mẩn gọt giũa như thế hệ cha ông”, ông Khoăng trăn trở.
Đồng quan điểm đó, ông Đinh Văn Xếp chia sẻ: “Nếu không tuyên truyền, vận động và truyền lại thì sau này nghề này cũng mất”. Các bậc cao niên đều thấu hiểu rằng, để nghề có thể tồn tại và đứng vững trong đời sống hiện đại, không chỉ cần tâm huyết của người gìn giữ mà còn phải giải quyết bài toán căn cơ: vừa phải truyền dạy kỹ năng, vừa phải tạo ra đầu ra ổn định, kết nối sản phẩm với thị trường và du lịch để người làm nghề có thể sống được bằng chính đôi tay của mình.
Gắn nghề truyền thống với du lịch
Nhận thức được giá trị to lớn của nghề đan lát trong việc gìn giữ bản sắc, cấp ủy và chính quyền địa phương tại các xã miền núi Quảng Ngãi đang tích cực triển khai các giải pháp hỗ trợ, gắn kết nghề thủ công truyền thống với chiến lược phát triển du lịch.
Theo ông Đinh Thanh Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sơn Mai, địa phương đánh giá rất cao tâm huyết của những người cao tuổi như ông Đinh Văn Xếp trong công tác bảo tồn văn hóa đồng bào Hre. Không chỉ tự gìn giữ, ông Xếp còn sẵn sàng truyền dạy kỹ thuật cho thế hệ trẻ trong thôn, giúp các em thêm thấu hiểu và trân trọng di sản của cha ông.
Bên cạnh đó, tại xã Sơn Tây Thượng, chính quyền địa phương cũng đang hoạch định những hướng đi thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghề thủ công truyền thống. Ông Phạm Hồng Khuyến, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây Thượng cho biết, thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để kết nối người làm nghề với các đơn vị lữ hành và điểm du lịch; đồng thời khuyến khích thế hệ trẻ tham gia các hoạt động trải nghiệm, quảng bá sản phẩm tại các phiên chợ vùng cao. Việc quy hoạch không gian trưng bày và định hướng đưa sản phẩm đan lát trở thành quà lưu niệm đặc trưng không chỉ giúp bà con tăng thêm thu nhập, vươn lên ổn định đời sống, mà còn là giải pháp căn cơ để lan tỏa và lưu giữ nét văn hóa độc đáo của đồng bào Ca Dong giữa nhịp sống đương đại.
Nhằm tạo sinh kế và phát huy giá trị văn hóa, chính quyền các xã Sơn Mai, Sơn Tây Thượng đang định hướng hỗ trợ quảng bá, trưng bày các sản phẩm đan lát thủ công tại các điểm du lịch trọng điểm trên địa bàn. Việc đưa sản phẩm thủ công tiếp cận gần hơn với du khách được kỳ vọng sẽ vừa mở ra cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân, vừa làm phong phú thêm trải nghiệm văn hóa cho du khách khi đến tham quan các bản làng.
Khi du khách đến với đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi, họ không chỉ đến để ngắm cảnh thiên nhiên mà còn tìm kiếm những trải nghiệm văn hóa chân thực qua câu chuyện đằng sau mỗi chiếc gùi, cái nia. Những sản phẩm mộc mạc từ mây, tre, nứa nếu được đầu tư đúng mức về mẫu mã, gắn liền với câu chuyện bản địa sẽ trở thành những món quà lưu niệm mang giá trị du lịch đặc trưng.
Nghề đan lát của đồng bào Hre, Ca Dong tại Quảng Ngãi dẫu trải qua nhiều đổi thay của thời gian, nhưng nhờ sự bền bỉ “giữ lửa” của những nghệ nhân tâm huyết cùng sự đồng hành của chính quyền địa phương, những sợi nan tre, mây đan vẫn đang tiếp tục được dệt nên, nối kết quá khứ với hiện tại, mở ra kỳ vọng mới trên hành trình bảo tồn bản sắc và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tên tự gọi: Hrê, trước kia thường gắn với tên sông sở tại như: "người Krê" - sông Krế ở Sơn Hà; "người Hrê" - sông Hrê ở Ba Tơ; "người nước Ðinh" - sông Ðinh ở An Lão)...
Tên gọi khác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Ðá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích.
Dân số: 127.420 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á). Từ thời kỳ trước năm 1975, chữ viết ra đời bằng cách dùng hệ thống kí tự La-tinh để phiên âm, được sử dụng rộng rãi, nhưng nay đã bị mai một.
Lịch sử: Người Hrê thuộc số cư dân sinh tụ rất lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.
Hoạt động sản xuất: Phần lớn người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy. Lối canh tác rẫy phát - đốt - chọc trỉa, với bộ nông cụ đơn giản gồm rìu, dao quắm, gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ, khi thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Cách thức làm ruộng tương tự như ở người Việt vùng nam Trung bộ (dùng cày, bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ và cấy, dùng liềm và vằng để gặt...) nhưng còn thấy dấu vết của tập quán trồng lúa rẫy.
Từng gia đình thường nuôi trâu, lợn, chó, gà. Nghề thủ công chỉ có đan lát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi. Việc giao lưu hàng hoá thường theo hình thức trao đổi vật trực tiếp. Hái lượm, săn bắt và đánh cá cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.
Ăn: Người Hrê thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ tết có thêm cơm nếp. Thức ăn chủ yếu là những thứ kiếm được và muối ớt, khi có cúng bái thì thịt con vật hiến sinh được dùng làm đồ nhắm và cải thiện bữa ăn. Thức ăn đựng trong các vật làm bằng mo cau. ¡n bốc. Thức uống có nước lã, nước chè xanh, rượu cần (nay rượu cất khá thông dụng). Tập quán hút thuốc lá và ăn trầu cau phổ biến.
Ở: Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi (các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long) và tỉnh Bình Ðịnh (huyện An Lão), một số ít ở tỉnh Kon Tum (huyện Kon Plông). Nhà sàn có cửa ra vào ở mỗi đầu và một mặt bên, có 2 hàng cột tạo thành 2 vì cột, trên đỉnh đốc có hình cặp sừng thú, vách nghiêng phía trên ra ngoài. Mặt sàn thường hơi cao một chút về bên không đặt bếp đun, nhằm tạo thế nằm thoải mái: chân thấp hơn đầu. Nhà ở trong làng đều dựng ngang triền đất dốc, tránh để đòn nóc chĩa hướng chắn ngang dòng chảy của sông suối.
Ngày nay, hầu hết người Hrê mặc theo kiểu người Việt: tuy nhiều phụ nữ còn dùng váy nhưng không phải loại vải sợi bông tự làm ra với những dải hoa văn ở hai đầu ống váy và khi mặc không tạo thành hai tầng như xưa.
Mặc: Theo nếp cũ, đàn ông đóng khố, chít khăn, khi dự lễ hội hoặc đi xa thì mặc áo; đàn bà có váy ống mặc kiểu hai tầng. Có áo, khăn trùm đầu. Những vòng đeo trang sức làm bằng đồng bạc, nhôm và chuỗi cườm; riêng nam giới không trang sức ở tai.
Phương tiện vận chuyển: Người Hrê quen dùng gùi sau lưng, mỗi quai gùi quàng giữ vào một vai: chở thóc gạo thì dùng gùi đan dày, chở củi, sắn thì có gùi mắt thưa, đàn ông đi rừng hay đi trận có riêng loại gùi như chiếc túi hoặc gùi ba ngăn. Ngoài ra, người Hrê còn gánh lúa khi gặt và đội đồ vật trên đầu.
Quan hệ xã hội: Già làng có uy tín và ảnh hưởng lớn. Trước kia sự phân hoá xã hội đã khá sâu sắc, chế độ tôi tớ - đặc biệt là đi ở vì nợ - có phần khắc nghiệt hơn nhiều tộc Thượng khác, hiện tượng tranh chiếm và tập trung ruộng đất (theo đó là sự xác lập quyền thế của một số cá nhân) đã tương đối phát triển. Tuy vậy, quan hệ trong làng vẫn thể hiện tinh thần cộng đồng công xã.
Cưới xin: Cư trú phía chồng hay phía vợ là tuỳ thoả thuận giữa hai gia đình, phần đông sẽ dựng nhà ở riêng sau khi có con đầu lòng. Ðám cưới có nghi thức dâu và rể kết gắn với nhau thông qua việc trao bát rượu, miếng trầu cho nhau hay quàng chung một vòng dây sợi... Vợ goá có thể lấy tiếp em chồng, chồng có thể lấy cả em vợ. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung mẹ hoặc cha đều không được lấy nhau.
Sinh đẻ: Việc sinh đẻ diễn ra bên cạnh bếp lửa trong nhà, có là đỡ hộ sinh, cắt rốn bằng dao, cái rau được gói trong mo cau rồi đem bỏ trong rừng hoặc chôn cạnh nhà. Sản phụ nghỉ ngơi vài chục ngày, kiêng ăn cá niêng, trứng, chuối, thịt gà trắng... Ðứa bé đầy tháng mới làm lễ đặt tên.
Ma chay: Quan tài độc mộc có dáng hao hao chiếc thuyền. Người chết được quàn tại nhà từ 1 đến 3 ngày rồi chôn trong bãi mộ của làng. Mộ đắp thành gò dài trên dựng nhà mồ có nóc mái làm như nhà ở. Tang gia "chia của" tựa hồ cho người chết đi ở riêng: từ đồ ăn thức uống cho đến vật dụng trong nhà, từ trang phục, công cụ lao động... đều có ở mộ.
Thờ cúng: Người Hrê có nhiều kiêng cữ và lễ thức tôn giáo, xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có hồn hay ma và con người bị các lực lượng siêu nhiên chi phối. Khi ốm đau, rủi ro, khi làm nhà, mang thai, đẻ khó, có người chết, khi gieo cấy và gặt hái, khi gieo trỉa và tuốt lúa, khi đưa thóc lên kho và lần đầu lấy thóc về ăn... đều cúng bái. Cộng đồng làng chỉ tổ chức cúng cầu an, tránh dịch bệnh, còn lại đều là các lễ cúng của gia đình.
Lễ tết: Lễ hội có đâm trâu là lớn nhất, dù đó là lễ của làng hay một nhà cũng đông vui. Hàng năm, người Hrê ăn tết vào khoảng tháng 10, sau khi thu hoạch lúa, nay nhiều làng theo tết Nguyên đán. Ngày tết có cúng cho trâu và lợn, cầu sinh sôi, cúng mời tổ tiên và cúng sức khoẻ cho mọi người trong nhà; có bánh gói bằng gạo nếp, rượu, thịt... Dịp tết làng làm lễ cúng tập thể cầu mong mưa thuận, đủ nước.
Lịch: Cách tính tương tự âm lịch của người Việt. Trong tháng, phân biệt ngày tốt, ngày xấu và chọn ra những ngày nên làm việc này, không nên làm việc kia.
Văn nghệ: Nhạc cụ thường dùng là bộ chiêng ba chiếc, bộ cồng ba chiếc, trống, các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hợp âm, sáo, nhị, đàn môi, nữ giới chơi bộ ống vỗ hai chiếc. Dân ca phổ biến nhất là điệu Katê và Ka choi. Truyện cổ (Hmon) được lưu truyền như một vốn quý trong văn hoá dân tộc, gồm những đề tài khác nhau. Các mô típ hoa văn hình học dệt trên vải và thể hiện trên đồ đan cũng mang tính truyền thống lâu đời.
Theo cema.gov.vn