Để khoa học công nghệ tạo sinh kế cho vùng nông thôn, miền núi

Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai năm 2016, với mục tiêu từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, đưa những kết quả nghiên cứu về giống cây trồng, kỹ thuật canh tác mới về vùng nông thôn, miền núi, từ đó trở thành động lực phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

cong-nghe-260626.jpg
Ruộng lúa tham gia Đề án của Hợp tác xã nông nghiệp Phát Tài, xã Châu Thành được hỗ trợ lắp đặt hệ thống giám sát khí thải methane. Ảnh: Thanh Hòa/TTXVN

Nhận định của nhiều chuyên gia tại Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 diễn ra sáng 26/6 tại Hà Nội, thông qua chương trình, khoa học và công nghệ đã từng bước trở thành một nguồn lực phát triển ở cơ sở, giúp người dân thay đổi phương thức sản xuất, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, còn các địa phương hình thành được những mô hình phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm

Phát biểu tại Hội thảo, ông Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá, thành công lớn nhất của Chương trình là việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển của địa phương.

Đến nay, sau 10 năm triển khai (2016-2025), Chương trình nông thôn miền núi đã triển khai 551 dự án tại 34/34 tỉnh, thành phố; xây dựng 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ; chuyển giao 2.354 quy trình công nghệ mới, tiên tiến; đào tạo hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho trên 82.700 lượt nông dân. Các mô hình ứng dụng công nghệ đạt mức tăng giá trị kinh tế trung bình hơn 30% so với công nghệ cũ.

Chương trình cũng đào tạo bồi dưỡng 1.800 lượt cán bộ quản lý, hơn 4.000 lượt kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho trên 82 nghìn lượt công nhân, nông dân về các quy trình kỹ thuật, công nghệ chuyển giao. Đây chính là các lực lượng nòng cốt để duy trì vận hành và nhân rộng sau khi dự án kết thúc, làm nền tảng cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội địa phương.

Kết quả triển khai Chương trình trong 10 năm qua phản ánh sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với hoạt động chuyển giao công nghệ trước yêu cầu đặt ra là công nghệ phải được ứng dụng, tạo ra giá trị kinh tế và có khả năng nhân rộng. Chính vì vậy, Chương trình đã tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo sinh kế như hoa, cây cảnh, cây dược liệu, khoai tây, nha đam, nuôi ong, chế biến gỗ hay nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều dự án không chỉ giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn góp phần hình thành vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hoa, cây cảnh (Viện Nghiên cứu Rau quả), trong 10 năm qua, Trung tâm đã trực tiếp tham gia chuyển giao công nghệ cho 20 dự án tại nhiều địa phương; chuyển giao hơn 40 quy trình kỹ thuật về nhân giống, trồng và chăm sóc hoa; xây dựng 45 mô hình sản xuất và nhân giống hoa chất lượng cao; đào tạo 145 kỹ thuật viên và tập huấn cho khoảng 2.500 lượt nông dân và cán bộ kỹ thuật cơ sở.

Từ những dự án này, nhiều giống hoa có giá trị kinh tế cao như lan Hồ điệp, lan Đai Châu, lily, đồng tiền, cúc… đã được đưa vào sản xuất tại nhiều địa phương. Đặc biệt, các mô hình trồng lan Hồ điệp và lily tại Hải Phòng, Gia Lâm (Hà Nội), Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh (nay là Bắc Giang), Phú Thọ, Quảng Ninh, Điện Biên, Huế, Quảng Trị đạt giá trị từ 2,5 - 3 tỷ đồng/ha/năm; nhiều mô hình hoa khác cũng đạt doanh thu 450 - 500 triệu đồng/ha/năm. Những con số này cho thấy khi được tổ chức chuyển giao bài bản, khoa học và công nghệ có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn nhiều lần so với phương thức sản xuất truyền thống.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tỉnh, nhận thức của người dân được chuyển giao giống và quy trình kỹ thuật đã thay đổi nhanh chóng. Từ chỗ còn e ngại với công nghệ mới, nhiều hộ dân đã chủ động học hỏi, mạnh dạn đầu tư và từng bước làm chủ kỹ thuật. Nhiều cán bộ kỹ thuật cơ sở cũng trưởng thành từ chính các dự án, trở thành lực lượng nòng cốt hướng dẫn người dân ứng dụng khoa học và công nghệ ngay tại địa phương. Không ít mô hình sau khi kết thúc dự án vẫn tiếp tục được duy trì, mở rộng và trở thành điểm tham quan, học tập của nhiều địa phương khác. Chương trình đã giúp thay đổi tư duy sản xuất của người dân theo hướng tiếp cận công nghệ cao; nâng cao năng lực khoa học và công nghệ ở địa phương thông qua đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên và nông dân nòng cốt; đồng thời hình thành nhiều mô hình kinh tế có giá trị cao, góp phần phát triển nền nông nghiệp xanh và bền vững. Đây cũng là những yếu tố quyết định để khoa học và công nghệ góp phần trở thành động lực phát triển của khu vực nông thôn, miền núi trong giai đoạn mới.

Chuyển giao công nghệ để tạo sinh kế bền vững

Thực tiễn triển khai Chương trình trong 10 năm qua cho thấy, những dự án đạt hiệu quả cao đều có sự tham gia chặt chẽ của doanh nghiệp trong vai trò tiếp nhận, hoàn thiện và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.

Từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2020, Công ty Cổ phần Ong Tam Đảo được giao chủ trì thực hiện dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, phát triển nghề nuôi ong mật và chế biến các sản phẩm ngành ong theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Vĩnh Phúc” với tổng kinh phí thực hiện là 9 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn từ ngân sách Trung ương là hơn 3,83 tỷ đồng. Bà Lê Thị Nga, Tổng Giám đốc công ty cho biết, thông qua dự án, doanh nghiệp đã tiếp nhận và làm chủ 15 quy trình công nghệ trong nuôi ong, sơ chế, bảo quản và chế biến các sản phẩm từ ong; xây dựng thành công các mô hình nuôi ong và chế biến theo hướng sản xuất hàng hóa; đặc biệt là đã hình thành được vùng nguyên liệu ổn định từ việc liên kết với các hộ dân các khâu chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ giống, vật tư, bao tiêu sản phẩm. Chính chuỗi liên kết này giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, còn người dân có đầu ra ổn định và yên tâm mở rộng sản xuất.

Hiệu quả kinh tế từ mô hình cũng được thể hiện bằng những con số cụ thể. Năng suất mật ong tăng từ mức 10 - 15 kg lên 36 kg/đàn/năm. Thu nhập của các hộ tham gia mô hình đạt gần 468 triệu đồng/năm; doanh nghiệp tạo thêm việc làm cho hàng chục lao động với mức thu nhập ngày càng được cải thiện. Sau khi dự án hoàn thành, doanh thu của công ty tăng 56% so với trước khi triển khai; nhiều sản phẩm được chứng nhận OCOP và từng bước chinh phục những thị trường có yêu cầu khắt khe như Mỹ, Đức, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Hiệu quả của dự án không dừng lại ở thời điểm nghiệm thu. Theo bà Lê Thị Nga, sau gần sáu năm, các quy trình công nghệ vẫn được doanh nghiệp tiếp tục khai thác, mở rộng quy mô sản xuất và phát triển thêm nhiều dòng sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao. Đến nay, công ty đã phát triển lên 10 sản phẩm OCOP 4 sao và 4 sản phẩm OCOP 5 sao; đồng thời tiếp tục duy trì chuỗi liên kết với người nuôi ong, qua đó góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Đây cũng là mục tiêu mà Chương trình Nông thôn miền núi hướng tới trong suốt quá trình triển khai. Chương trình lựa chọn những ngành hàng có lợi thế của từng địa phương để đầu tư theo chuỗi, từ chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng mô hình trình diễn đến kết nối doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ. Chính cách làm này đã giúp nhiều vùng sản xuất từng bước hình thành thương hiệu, nâng cao giá trị sản phẩm và tạo việc làm ngay tại địa phương.

Qua thực tiễn triển khai, có thể thấy khoa học và công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với thị trường. Tại Hội thảo, nhiều đại biểu cho rằng giai đoạn tiếp theo cần tiếp tục duy trì một chương trình kế thừa với quy mô và cơ chế phù hợp hơn. Bên cạnh việc hỗ trợ chuyển giao công nghệ, cần tăng cường đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật tại cơ sở, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình ứng dụng kết quả nghiên cứu, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu/trường đại học, doanh nghiệp và địa phương để hình thành các chuỗi giá trị bền vững.

Một số ý kiến cũng thẳng thắn phân tích những khó khăn liên quan đến thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, thủ tục quản lý, năng lực tiếp nhận công nghệ và khả năng duy trì, nhân rộng mô hình sau khi dự án kết thúc.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW, Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng, Chương trình cần đổi mới tư duy và phương thức triển khai; chuyển đổi từ mô hình hỗ trợ sang giải quyết các bài toán phát triển của địa phương; từ chuyển giao công nghệ sang làm chủ công nghệ; từ hỗ trợ riêng lẻ sang phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại địa phương; từ đánh giá số lượng mô hình sang đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và khả năng nhân rộng của mô hình. Tất cả những mô hình sau này sẽ phải trả lời câu hỏi có đóng góp gì cho tăng trưởng 2 con số của địa phương, của chính quyền địa phương. Do đó, mỗi địa phương cần chủ động xác định bài toán lớn, huy động doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học cùng tham gia giải quyết, hình thành các mô hình phát triển có sức lan tỏa, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước./.

Có thể bạn quan tâm

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Trong hành trình phát triển của đất nước, Đảng bộ, chính quyền thành phố Cần Thơ đã thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng người dân tộc thiểu số (DTTS). Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ để làm rõ hơn về vấn đề này.