Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

​

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Thưa ông, từ thực tiễn thị trường, ông đánh giá như thế nào về mức độ hiện diện và khả năng tiêu thụ của các sản phẩm gắn với nghề truyền thống, bản sắc văn hóa và tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số?

Từ góc độ người tiêu dùng, có thể thấy sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã bước ra khỏi phạm vi trước đây thường được gọi là “quà quê”, để hiện diện rõ hơn trong đời sống tiêu dùng. Nhiều sản phẩm như trà Shan Tuyết cổ thụ, gạo Séng Cù, mật ong bạc hà, miến dong, dược liệu, thổ cẩm và các sản phẩm thủ công đã tiếp cận được với các đô thị lớn, khách du lịch cũng như một số thị trường ngoài nước.

buiat.jpg
Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, cho rằng, cần đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng.

Đây là tín hiệu rất tích cực, bởi người tiêu dùng, đặc biệt ở phân khúc trung và cao cấp, ngày càng tìm kiếm những giá trị thật, nguyên liệu bản địa, quy trình sản xuất đáng tin cậy, câu chuyện về con người và tác động tích cực đến cộng đồng.

Một búp chè không chỉ là nguyên liệu, mà phía sau còn là câu chuyện về khí hậu, độ cao, cây chè cổ thụ và kỹ năng trồng, chăm sóc chè của nhiều thế hệ. Khi những yếu tố đó được xác thực và thể hiện đúng cách, chúng ta có thể tạo nên những sản phẩm khác biệt mà hàng hóa đại trà không thể có được.

Tuy nhiên, từ góc độ quản lý và phát triển thị trường trong nước, cần nhìn thẳng vào thực tế rằng, có mặt trên thị trường chưa đồng nghĩa với việc đứng vững trên thị trường. Nhiều sản phẩm vẫn chủ yếu xuất hiện theo mùa vụ, tại hội chợ hoặc các tuần hàng; số sản phẩm duy trì được doanh số, số lượng đơn hàng và tính ổn định trong hệ thống phân phối, bán lẻ còn hạn chế.

Giá trị văn hóa nhiều khi mới chỉ được kể bằng lời nói mà chưa được tích hợp vào thiết kế, tiêu chuẩn, truy xuất chuỗi sản xuất, phân phối, trải nghiệm số và dịch vụ sau bán hàng. Vì vậy, phần giá trị gia tăng mà người sản xuất và cộng đồng nhận được vẫn chưa tương xứng.

Tóm lại, chúng ta đã đi được bước đầu là đưa đặc sản từ bản làng, thôn xóm ra thị trường. Bước tiếp theo là phải đưa sản phẩm từ quầy giới thiệu vào giỏ hàng thường xuyên của người tiêu dùng.

Thực tế, các giá trị văn hóa và tri thức bản địa có thể tạo ra giá trị gia tăng khi được tổ chức, phát triển bài bản. Tuy nhiên, từ một mô hình cụ thể đến khả năng nhân rộng và đứng vững trên thị trường vẫn còn nhiều rào cản. Từ góc độ quản lý, phát triển thị trường, theo ông, đâu là những điểm nghẽn có tính quyết định hiện nay?

Qua quan sát từ Bộ Công Thương, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, các đơn vị của Bộ cũng như các sở, ngành địa phương, chúng tôi thấy điểm nghẽn không nằm ở một khâu riêng lẻ mà ở khoảng cách giữa việc có sản phẩm tốt và có năng lực thị trường. Có thể nhận diện 5 nút thắt.

Thứ nhất, nguồn cung và chất lượng chưa thực sự ổn định. Tại nhiều nơi, sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ, phụ thuộc vào mùa vụ và thời tiết, trong khi hệ thống phân phối, bán lẻ cần sản lượng ổn định, quy cách và thời hạn giao hàng có thể dự báo. Chẳng hạn, để đưa sản phẩm lên quầy kệ của một hệ thống như WinCommerce với 7.000-8.000 điểm bán, phải bảo đảm hàng hóa luôn có mặt trên kệ. Vì vậy, cần chuẩn hóa những phần có thể chuẩn hóa nhưng vẫn bảo tồn những yếu tố tạo nên bản sắc và tri thức kết tinh trong sản phẩm.

Thứ hai, truy xuất nguồn gốc chưa thực sự trở thành một “hộ chiếu niềm tin”. Nhiều sản phẩm, kể cả sản phẩm OCOP, mới chỉ sử dụng mã QR để cung cấp những thông tin hành chính cơ bản. Nếu có thể tích hợp trong mã QR thông tin về vùng nguyên liệu, người làm ra sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và hành trình lưu thông của sản phẩm đến thị trường, đó sẽ không chỉ là một trang quảng cáo mà là cả câu chuyện của sản phẩm.

Thứ ba, giá trị văn hóa chưa được chuyển hóa đầy đủ thành ngôn ngữ của thị trường. Bao bì của nhiều sản phẩm còn sơ sài hoặc quá công nghiệp; câu chuyện về cộng đồng, nghệ nhân và tri thức bản địa chưa được thể hiện ngắn gọn, chân thực và hấp dẫn. Trong bối cảnh người tiêu dùng tiếp cận rất nhiều thông tin mỗi ngày, việc truyền tải câu chuyện bằng ngôn ngữ thị trường là rất quan trọng. Khi làm tốt, người tiêu dùng không chỉ mua sản phẩm mà còn lựa chọn một giá trị và một trải nghiệm.

Thứ tư, chi phí logistics còn cao do nguồn nguyên liệu và sản xuất đặc thù, khoảng cách xa, lô hàng nhỏ và thiếu các điểm gom, bảo quản, trung chuyển phù hợp. Cần có những trạm trung chuyển, sơ chế, bao bì để tối ưu hệ thống cung ứng. Giá đến tay người tiêu dùng hiện có thể cao, trong khi phần giá trị giữ lại cho bà con và người sản xuất chưa tương xứng.

Thứ năm, năng lực thương mại của nhiều chủ thể chưa theo kịp yêu cầu của các kênh hiện đại. Khi tham gia chuỗi bán lẻ, trung tâm thương mại, siêu thị hoặc nền tảng thương mại điện tử, các chủ thể phải hoàn thiện hồ sơ pháp lý, nhãn hàng hóa, tiêu chuẩn, hóa đơn, mã số mã vạch, quản lý đơn hàng, công nợ, đổi trả. Đây là những chi phí gia nhập thị trường rất thực tế, cần sự hỗ trợ đối với các hợp tác xã và cơ sở nhỏ.

Theo tôi, đây không phải câu chuyện các hợp tác xã hay bà con phải đáp ứng ngay tất cả yêu cầu, mà cần có thời gian và sự hỗ trợ của Nhà nước, nhất là khi chênh lệch tiếp cận thông tin ở các vùng vẫn còn.

Những nút thắt này không thể được xử lý bằng các hoạt động rời rạc mà cần một chuỗi hỗ trợ từ chuẩn hóa sản phẩm, dữ liệu, logistics đến ký kết và duy trì đơn hàng. Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cùng các đơn vị liên quan đang tổ chức triển khai theo hướng này. Bên cạnh Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 88/NQ-CP của Chính phủ về thúc đẩy thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, chúng tôi sẽ đưa ra các hướng dẫn, chương trình để thiết kế những mô hình xử lý điểm nghẽn, nâng cao giá trị sản phẩm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Để hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW từ góc độ phát triển thị trường, thời gian tới Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước sẽ ưu tiên những giải pháp nào nhằm hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp và hợp tác xã khai thác, chuyển hóa giá trị văn hóa, tri thức bản địa của sản phẩm thành giá trị thương mại?

Trên cơ sở tổng kết các chương trình mục tiêu quốc gia, đề án và nhiệm vụ về phát triển thị trường trong nước trong giai đoạn qua, từ góc độ chức năng, nhiệm vụ của Cục, chúng tôi cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh và có thể bán được lâu dài. Cục sẽ tham mưu và phối hợp triển khai theo 5 hướng.

Thứ nhất, từ hỗ trợ dàn trải sang phân nhóm thị trường và sản phẩm, với lộ trình phù hợp cho từng nhóm. Đối với thực phẩm và dược liệu, ưu tiên chất lượng, an toàn và bảo quản; đối với thủ công, thổ cẩm, ưu tiên thiết kế, câu chuyện, chỉ dẫn địa lý, bản quyền và trải nghiệm. Đối với sản phẩm du lịch, sẽ tăng cường liên kết các điểm đến và dịch vụ, định hướng doanh nghiệp, hợp tác xã đưa sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc trưng vùng miền vào khai thác các thị trường, các điểm “hub” của khu vực.

Cùng với đó, chuyển từ truy xuất nguồn gốc hành chính sang “hộ chiếu của sản phẩm”. Hộ chiếu này phải có dữ liệu để kể được hành trình từ vùng nguyên liệu tới điểm bán, kết nối với các tiêu chuẩn chứng nhận và phản hồi của người tiêu dùng. Qua đó, sản phẩm không chỉ bán xong là kết thúc mà còn có kênh tiếp nhận phản hồi để điều chỉnh phù hợp, đồng thời vẫn gìn giữ bản sắc văn hóa bản địa.

Đăc biệt, chuyển từ quảng bá ngắn hạn sang kết nối có cam kết. Các hội nghị kết nối cung cầu sẽ gắn với lựa chọn nhà cung cấp, thử nghiệm đơn hàng, tư vấn hoàn thiện và theo dõi tỷ lệ tái đặt hàng. Với những trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, cần có lộ trình từng bước để bà con và các chủ thể hoàn thiện sản phẩm.

Song song đó, cần chuyển từ từng hộ riêng lẻ sang các cụm liên kết với chuỗi cung ứng. Cần mở rộng hệ sinh thái liên kết từ bà con tới doanh nghiệp, logistics và các lĩnh vực liên quan; khuyến khích hợp tác xã, doanh nghiệp dẫn dắt, đơn vị logistics và hệ thống phân phối cùng xây dựng điểm gom, lịch đặt hàng, quy cách đóng gói và kế hoạch mùa vụ. Qua đó có thể giảm chi phí logistics nhưng vẫn giữ được dấu ấn của từng cộng đồng.

Bên cạnh số lượt trưng bày, số lượng sản phẩm tham gia, cần quan tâm đến doanh số, tỷ lệ đặt hàng, mức thu nhập giữ lại tại địa phương và việc làm bền vững. Trong đó, chúng tôi cũng quan tâm đến việc tạo việc làm bền vững cho phụ nữ và huy động lực lượng thanh niên cùng tham gia.

Nguyên tắc xuyên suốt là đồng bào không chỉ cung cấp nguyên liệu hay hình ảnh cho câu chuyện thương hiệu. Cộng đồng phải được tham gia quyết định cách sử dụng các yếu tố văn hóa, được ghi nhận quyền đối với tri thức và thiết kế truyền thống, được nâng cao năng lực kinh doanh và hưởng lợi công bằng từ phần giá trị gia tăng tạo ra.

Đối với di sản, nếu khai thác được có thể đem lại giá trị gia tăng rất lớn. Tham chiếu từ di sản Hạ Long cho thấy nếu khai thác bền vững, giá trị kinh tế có thể tăng gấp 81 lần so với tiền bán vé cho điểm tham quan du lịch. Từ đó, với tri thức bản địa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần đặt ra những mục tiêu sát thực, có thể đo đếm được, để phát triển văn hóa đi đôi với thương mại, du lịch và phát triển kinh tế một cách bền vững.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc

Có thể bạn quan tâm

Kết nối nguồn lực, chung tay giảm nghèo

Kết nối nguồn lực, chung tay giảm nghèo

Tỉnh Phú Thọ tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội để chăm lo cho hộ nghèo, cận nghèo và những hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh hỗ trợ nhà ở, sinh kế, học tập, việc rà soát từng trường hợp để có hình thức giúp đỡ phù hợp đang được chú trọng, nhằm bảo đảm chính sách an sinh đến đúng đối tượng, góp phần giảm nghèo bền vững.

HĐND tỉnh Lào Cai thông qua 23 nghị quyết quan trọng

HĐND tỉnh Lào Cai thông qua 23 nghị quyết quan trọng

Chiều 15/10, Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức Kỳ họp thứ 6 (kỳ họp chuyên đề) và thông qua 23 nghị quyết quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội cho những tháng còn lại của năm 2026.

Kết nối nguồn lực, đưa y tế và nhu yếu phẩm về vùng biên giới biển

Kết nối nguồn lực, đưa y tế và nhu yếu phẩm về vùng biên giới biển

Trong hai ngày 14 và 15/10/2026, tại phường Vĩnh Phước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ phối hợp cùng chính quyền địa phương, các đơn vị đồng hành và Đoàn Y bác sĩ thiện nguyện thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình “Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, cấp thuốc miễn phí và tặng quà từ thiện" cho người dân có hoàn cảnh khó khăn khu vực biên giới biển.

Trải nghiệm độc đáo trong mùa nước nổi miền Tây

Trải nghiệm độc đáo trong mùa nước nổi miền Tây

Mỗi mùa nước nổi về, những cánh đồng vùng đầu nguồn biên giới An Giang lại mênh mông sóng nước. Giữa không gian đồng quê khoáng đạt, tắm đồng trở thành thú vui của người dân và trải nghiệm độc đáo thu hút du khách.

Gia Lai: Xác minh được liệt sĩ Nguyễn Thanh Trì tại Ia Dom

Gia Lai: Xác minh được liệt sĩ Nguyễn Thanh Trì tại Ia Dom

Ngày 14/10, thông tin từ Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh cho biết, lực lượng chức năng tỉnh Gia Lai đã xác minh được thông tin trên tấm bia nhôm tìm thấy cùng hài cốt liệt sĩ tại xã Ia Dom, xác định tên liệt sĩ là Nguyễn Thanh Trì, hy sinh ngày 18/5/1970.

Phổ cập kỹ năng số từ tuyên truyền sang trải nghiệm an toàn

Phổ cập kỹ năng số từ tuyên truyền sang trải nghiệm an toàn

Từ hướng dẫn người dân cài đặt, sử dụng VNeID, thực hiện dịch vụ công trực tuyến đến hỗ trợ thanh toán không dùng tiền mặt, các tổ công nghệ số cộng đồng tại Tây Ninh đang từng bước đưa chuyển đổi số đi vào đời sống bằng những việc làm cụ thể.

Gia Lai đặt mục tiêu giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi

Gia Lai đặt mục tiêu giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi

Năm 2025, tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi tại khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai là 21,9%, cao hơn mức 14,6% ở khu vực phía Đông. Tương tự, tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi tại khu vực phía Tây là 16,8%, trong khi khu vực phía Đông là 11,2%. Sự chênh lệch này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe trẻ em tại các địa bàn khó khăn.

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Nằm cạnh khe suối, ở khu vực trũng thấp, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Lượng Minh, xã Lượng Minh, tỉnh Nghệ An thường xuyên đối mặt nguy cơ ngập lụt mỗi khi mưa lớn.

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Chiều 10/10, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Quảng Trị cho biết, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở nhiều tuyến giao thông, chia cắt một số bản làng tại các xã miền núi, đồng thời gây thiệt hại về sản xuất nông nghiệp và công trình thủy lợi. Đặc biệt, một phụ nữ ở xã Dân Hóa bị nước lũ cuốn trôi, hiện các lực lượng chức năng đang khẩn trương tổ chức tìm kiếm.

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Ngày 10/10, mưa lớn kéo dài khiến tình hình lũ trên các sông ở tỉnh Quảng Trị tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều ngầm tràn, tuyến đường bị ngập sâu, ảnh hưởng đến giao thông và đời sống người dân. Trước nguy cơ mất an toàn do mưa lũ, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đang tăng cường kiểm tra, cảnh báo, triển khai các biện pháp ứng phó nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Ngày 9/10, tại bản Eo Bù - Chút Mút, xã Kim Ngân, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức chương trình “Thời sự về bản” quý III/2026, kết hợp tuyên truyền, chăm lo đời sống và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân địa phương.