Độc đáo cọn nước của người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An) nằm lọt thỏm, biệt lập trong thung lũng, được bao bọc bởi những dãy núi trùng điệp và đại ngàn khu sinh quyển Pù Huống. Hàng trăm năm qua, khi cộng đồng dân tộc Thái về đây khai hoang, định cư, lập bản, họ đã biết chế tác, sử dụng cọn nước thay thế sức người múc nước từ các dòng suối chảy để tưới cho diện tích đất ở vị trí cao, tạo nên những thửa ruộng bậc thang Na Cọ, Nà Bó…trù phú.

Ngày nay, cọn nước không chỉ là phương tiện phục vụ thủy lợi, minh chứng cho sự sáng tạo và khéo léo, tinh thần vượt qua khó khăn trong lao động sản xuất mà còn là nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào Thái nơi đây.

Điểm nhấn độc đáo của cọn nước

nguoi-thai-o-thung-lung-binh-chuan-6.jpg
Khung cảnh bản làng của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An) nằm dọc quốc lộ 48C, trải dài trong thung lũng được ôm trọn bởi những dãy núi cao trùng điệp và màu xanh thẳm của vùng đệm đại ngàn Pù Huống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Nằm trên tuyến Quốc lộ 48C độc đạo, thung lũng Bình Chuẩn là nơi sinh sống chủ yếu của cộng đồng dân tộc Thái ở 7 bản. Các dốc núi Pù Lìu, Pù Huột dài khúc khuỷu, cao ngất là hai “cửa ngõ” từ hướng Mường Choọng và Nga My để vào thung lũng này.

Dễ dàng bắt gặp ở Bình Chuẩn là sự hiện diện của các cọn nước nằm dọc bên bờ các dòng suối Khe Mét, Khe Cố... chạy ngang thung lũng.

Cọn nước có hình dáng như một bánh xe khổng lồ, bán kính từ 1,2m đến gần 2m. Mỗi cọn nước là một hệ thống cấu trúc hài hòa gồm nhiều bộ phận như: Trụ nâng, cột chống, trục, bánh quay, ống nứa, quạt nước… Trong đó “linh hồn” của cọn nước là hệ thống nan chống gồm hàng trăm ống nứa chiều dài bằng nhau cùng cắm vào tâm trục gỗ, tạo độ chắc chắc cho “vành bánh xe” có chu vi từ hơn 7 đến hơn 12m.

Những “cọn nước” trong thung lũng Bình Chuẩn ngày đêm cần mẫn nhịp quay, đều đặn cung cấp nước tưới cho những diện tích đồng rượng ở nằm vị trí cao từ 1 đến 3m so với mặt nước suối trong thung lũng Bình Chuẩn. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Những “cọn nước” trong thung lũng Bình Chuẩn ngày đêm cần mẫn nhịp quay, đều đặn cung cấp nước tưới cho những diện tích đồng rượng ở nằm vị trí cao từ 1 đến 3m so với mặt nước suối trong thung lũng Bình Chuẩn. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Sức nặng của cọn nước được nâng đỡ bởi hệ thống cột nâng, chân cột cắm sâu vào lòng suối và được kè đá trong sọt đan bằng tre để giữ cho trụ cột và bánh xe luôn thẳng đứng. Để bánh xe của cọn nước quay đều đặn, trên khắp vành bánh xe được lắp đặt vô số những tấm đan vật liệu từ tre, nứa. Các tấm đan này liên tục nhận lực đẩy của dòng nước theo phương thức tự hành.

Trên vành bánh xe được gắn hàng trăm ống nứa có chức năng đựng nước từ mặt suối rồi dâng lên cao theo chiều quay của bánh xe. Nhờ độ nghiêng hợp lý khi gắn kết trên vành bánh xe của cọn nước, các ống nứa này khi lên cao nhất định sẽ tự đổ nước vào lòng máng và theo hệ thống đường dẫn chảy về chân ruộng. Sức bền, độ chắc chắn của bánh xe nhờ hàng trăm cọc nứa đan chéo, liên kết nhau với những nút buộc bằng dây lạt, dây mây tại điểm giao nhau.

Ông Kha Văn Trang, Trưởng bản Na Cọ, xã Bình Chuẩn cho biết, vị trí những cọn nước luôn nằm bên bờ suối. Khi lắp đặt cọn nước, chủ nhân của những thửa ruộng phải khảo sát kỹ vị trí để vừa tiết kiệm chi phí, công sức lắp đặt, vừa đảm bảo sự vận hành lâu dài, liên tục, bền bỉ của cọn nước. Để mực nước suối luôn đảm bảo độ sâu và có dòng chảy đủ sức đẩy làm quay những bánh xe, người dân phải kỳ công sắp đá cuội qua lòng suối để ngăn dòng, nâng độ dâng cao của mực nước và gom lực chảy tập trung về khu vực cọn nước.

Ông Lô Văn Mằn, bản Na Cọ chia sẻ, người dân còn kỳ công dựng nên hàng rào chắn trước cọn nước để hạn chế các loại rác, cành cây, lá cây rừng trôi theo dòng chảy mắc vào cánh quạt, ống đựng nước. Nhờ đó, giúp quá trình vận hành của vành bánh và trục quay nhẹ nhàng hơn. Ở những vị trí có dòng chảy mạnh, còn phải tạo thêm số lượng trụ nâng giúp cọn nước đứng vững.

Công trình đập Na Cọ trên hạ lưu dòng Khe Cố thực hiện chức năng trị thủy, cung cấp nước tưới và tạo nên những mùa vàng cho những cánh ruộng trong thung lũng Bình Chuẩn. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Công trình đập Na Cọ trên hạ lưu dòng Khe Cố thực hiện chức năng trị thủy, cung cấp nước tưới và tạo nên những mùa vàng cho những cánh ruộng trong thung lũng Bình Chuẩn. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ngược thượng nguồn suối Khe Mét, có những cọn nước khổng lồ nép mình bên những diện tích ruộng có độ cao gần 3m so với mực nước suối. Theo người dân địa phương, ở những khu vực ruộng có độ cao chênh lệch như thế này, việc lấy nước bằng phương pháp thủ công như dùng sức người “tát” nước lên mặt ruộng là không thể. Nếu dùng máy bơm nước, chi phí rất lớn. Dùng cọn nước là giải pháp tối ưu, mang lại hiệu quả, hiệu năng nhất.

Chị Lô Thị Ly, bản Mét cho biết, ngoài chức năng như “máy bơm nước” vĩnh cửu, miệt mài đổ nước ngày đêm lên ruộng đồng ruộng, những cọn nước trong thung lũng Bình Chuẩn còn tạo nên nét đẹp truyền thống, gắn với sinh hoạt của cộng đồng người Thái ở nhiều bản làng. Người dân thường đến những cọn nước để rửa cỏ, giặt quần áo, rửa nông sản, làm sạch nông cụ sau mỗi lần đi nương rẫy…

Tạo mùa vàng trong thung lũng

Những cánh đồng lúa nước xanh mướt trải dài dưới chân núi hôm nay không chỉ tạo nên “vựa” lương thực, mang lại cuộc sống đủ đầy hơn mà còn phản chiếu sự cần cù, bền bỉ của người dân vùng cao, miền núi trong thung lũng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Những cánh đồng lúa nước xanh mướt trải dài dưới chân núi hôm nay không chỉ tạo nên “vựa” lương thực, mang lại cuộc sống đủ đầy hơn mà còn phản chiếu sự cần cù, bền bỉ của người dân vùng cao, miền núi trong thung lũng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ông Lang Văn Tuất, bản Na Cọ cho biết, để làm nên một cọn nước cần rất nhiều thời gian, công sức. Các nguyên liệu tre, nứa, dây mây cột buộc, gỗ làm lòng máng, đường gom dẫn nước, trục quay… phải vào sâu trong rừng già để tìm kiếm, khai thác và vận chuyển thủ công về bản. Khi có đủ nguồn vật liệu mới bắt tay vào làm cọn nước. Thông thường, “công trường” làm cọn nước được triển khai gần vị trí lắp đặt bên suối để rút ngắn quãng đường, thời gian di chuyển đến nơi dựng.

Để hoàn thành một cọn nước nặng từ 2 - 400 kg phải mất khoảng thời gian từ 10 ngày đến nửa tháng làm việc liên tục ngay bên bờ suối với các công việc đục đẽo, cưa xẻ, ghép kết, đan cài, cột buộc... Công việc dựng và lắp đặt cọn nước vất vả, khó nhọc và cần đến sự trợ giúp, hỗ trợ sức lực của nhiều người. Mỗi lần có gia đình dựng cọn nước, anh em họ hàng, dòng tộc, làng xóm cùng tham gia hỗ trợ. Qua đó, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng trong bản được nhân lên.

Người dân đồng bào Thái xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An) thu hoạch lúa trên những diện tích ruộng nằm giáp ranh vùng đệm của đại ngàn Pù Huống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Người dân đồng bào Thái xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An) thu hoạch lúa trên những diện tích ruộng nằm giáp ranh vùng đệm của đại ngàn Pù Huống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ông Kha Văn Trang, Trưởng bản Na Cọ cho biết, là phương tiện xuất hiện phổ biến, không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp của người Thái vùng thung lũng Bình Chuẩn nhưng cọn nước không sản xuất để bán buôn sinh lời. Tại các bản làng, người dân tạo ra cọn nước chỉ phục vụ nước tưới canh tác cho ruộng đồng. Mỗi cọn nước có tuổi thọ sử dụng khoảng từ hơn 1 năm đến 2 năm.

Ông Lô Văn Lý, Chủ tịch UBND xã Bình Chuẩn cho biết, toàn xã có hơn 180ha ruộng lúa, trong đó, có trên 80ha ruộng bậc thang nằm ở khu vực có chênh lệch độ cao từ 1m đến 3m so với mực nước suối. Những năm qua, các thửa ruộng ở vị trí cao này “sống” được nhờ gần 60 cọn nước nước nằm dọc các con suối Khe Chon, Khe Chọi, Khe Cố và Khe Mét. Đây là những con suối lớn, xuất phát từ đại ngàn Pù Huống, có nguồn nước trong năm khá dồi dào.

“Đối với đồng bào Thái, cọn nước đã xuất hiện có từ bao đời nay, là công cụ quen thuộc trong canh tác nông nghiệp và trở thành yếu tố quan trọng, quyết định cho sự thành bại của mỗi vụ lúa ở vị trí cao không thế lấy nước trực tiếp từ hệ thống kênh mương nội đồng. Nhờ hệ thống cọn nước ngày đêm xoay guồng cấp nước tưới đã góp phần làm nên những “mùa vàng” trên các cánh đồng bản Na Cọ, Mét, Tông, Đình, Xiềng. Cọn nước phát huy tác dụng đã đảm bảo an ninh lương thực cho hàng trăm hộ gia đình trên địa bàn có vị trí ruộng lúa ở khu vực cao trong thung lũng”, Chủ tịch UBND xã Bình Chuẩn Lô Văn Lý cho biết.

Câu ngạn ngữ “người Thái ăn theo nước” từ bao đời nay đã đề cập về địa thế lạc nghiệp, tập quán sản xuất, sinh hoạt và cội nguồn văn hóa của người Thái. Đồng bào Thái sinh sống vùng hạ lưu sông suối lớn, văn hóa trồng lúa nước hình thành, gắn liền với quá trình lập nghiệp hàng trăm năm qua. Cọn nước là hình ảnh không thể thiếu vắng tại các tiểu vùng văn hóa Thái.

Ngược miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An, đến các xã Quỳ Châu, Quế Phong, Tiền Phong, Châu Tiến, Yên Hòa, Tương Dương… dễ dàng bắt gặp hình ảnh những dãy cọn nước nằm dọc các khe suối, bờ sông cần mẫn “chờ” nước tắm mát cho ruộng đồng.

Cuộc sống hiện đại đang từng ngày len lỏi vào các bản làng nhưng đồng bào Thái ở Bình Chuẩn vẫn gìn giữ, bảo lưu được hàng trăm ngôi nhà sàn truyền thống, tạo nên nét đẹp đặc trưng mang tính nhận diện văn hóa của bản làng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Cuộc sống hiện đại đang từng ngày len lỏi vào các bản làng nhưng đồng bào Thái ở Bình Chuẩn vẫn gìn giữ, bảo lưu được hàng trăm ngôi nhà sàn truyền thống, tạo nên nét đẹp đặc trưng mang tính nhận diện văn hóa của bản làng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Đêm đến, địa bàn các xã miền núi mau chóng chìm trong tĩnh lặng của đại ngàn. Khi những ngôi nhà sàn cửa đóng, then cài, khép lại nhịp sinh hoạt, bản làng lại vọng đều âm thanh guồng quay của cọn nước trên những dòng suối.

Những nếp nhà sàn truyền thống ở bản Mét (xã Bình Chuẩn, tỉnh Nghệ An) của đồng bào Thái nép mình bên sườn đồi, hài hòa trong khung cảnh núi đồi tạo nên bức tranh làng bản vừa mộc mạc, yên bình nhưng giàu sức sống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Những nếp nhà sàn truyền thống ở bản Mét (xã Bình Chuẩn, tỉnh Nghệ An) của đồng bào Thái nép mình bên sườn đồi, hài hòa trong khung cảnh núi đồi tạo nên bức tranh làng bản vừa mộc mạc, yên bình nhưng giàu sức sống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ngày nay, cùng với cảnh quan thiên nhiên núi rừng vùng cao, sông nước hiền hòa, mát lành, cọn nước đã trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút khách du lịch tìm về để khám phá vẻ đẹp thiên nhiên và đời sống sinh hoạt của người dân bản địa./.

Người dân bản Na Cọ (xã Bình Chuẩn) dùng máy móc và hỗ trợ giúp nhau cưa xẻ gỗ, thưng ván làm nhà sàn truyền thống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Người dân bản Na Cọ (xã Bình Chuẩn) dùng máy móc và hỗ trợ giúp nhau cưa xẻ gỗ, thưng ván làm nhà sàn truyền thống. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Khi đại ngàn Pù Huống vào mùa đót, nghề làm chổi đót thủ công ở các bản Na Cọ, Mét, Xiềng (xã Bình Chuẩn) phát triển mạnh, góp phần tạo việc làm và tăng thêm thu nhập cho dân bản. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Khi đại ngàn Pù Huống vào mùa đót, nghề làm chổi đót thủ công ở các bản Na Cọ, Mét, Xiềng (xã Bình Chuẩn) phát triển mạnh, góp phần tạo việc làm và tăng thêm thu nhập cho dân bản. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Cầu bê tông bắc qua suối Khe Mét, chạy qua trung tâm bản Mét (xã Bình Chuẩn) trên quốc lộ 48C huyết mạch đã tạo thuận lợi giao thông, thúc đẩy kinh tế bản làng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Cầu bê tông bắc qua suối Khe Mét, chạy qua trung tâm bản Mét (xã Bình Chuẩn) trên quốc lộ 48C huyết mạch đã tạo thuận lợi giao thông, thúc đẩy kinh tế bản làng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Cầu Na Cọ trên quốc lộ 48C huyết mạch nằm ở “cửa ngõ” thung lũng xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An). Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Cầu Na Cọ trên quốc lộ 48C huyết mạch nằm ở “cửa ngõ” thung lũng xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An). Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Xuân Tiến - Văn Tý/TTXVN
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.