Đổi mới cách tiếp cận, tiếp sức cho học sinh Xơ Đăng đến trường

Với quyết tâm không để học sinh nào bị bỏ lại phía sau, xã Tu Mơ Rông (Quảng Ngãi) đang triển khai hiệu quả Diễn đàn “Lắng nghe con nói – Đồng hành cùng con đến trường”. Đây là một hướng đi mới, đầy nhân văn nhằm kéo giảm tình trạng học sinh dân tộc thiểu số nghỉ học, đồng thời thắt chặt sợi dây liên kết giữa gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương.

xo-dang-hoc-sinh-15042026-01.jpg
Quang cảnh buổi tuyên truyền. Ảnh: TTXVN phát

Tại xã vùng cao Tu Mơ Rông, nơi đồng bào Xơ Đăng chiếm 96% dân số, công tác giáo dục luôn đối mặt với những thách thức đặc thù. Do điều kiện kinh tế và nếp nghĩ cũ, một bộ phận phụ huynh vẫn chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con em, dẫn đến tình trạng học sinh thường xuyên vắng học để theo cha mẹ lên nương rẫy. Thiếu đi sự định hướng và lắng nghe từ gia đình, con đường đến trường của nhiều em nhỏ trở nên chông chênh, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển và hoàn thiện kỹ năng sống.

Để giải quyết tận gốc vấn đề này, từ ngày 26/3, Đảng ủy xã Tu Mơ Rông đã giao Đoàn Thanh niên làm đầu mối, phối hợp chặt chẽ cùng lực lượng Công an và các trường học trên địa bàn tổ chức chuỗi diễn đàn đối thoại trực tiếp tại từng thôn bản. Để “tiếp lửa” cho bà con, các buổi diễn đàn được tổ chức vào buổi tối - thời điểm người dân đã trở về sau một ngày lao động vất vả. Tại 5 thôn đầu tiên là Ty Tu, Đăk Pờ Trang, Kon Ling, Kon Pia và Ngọc Leang, không gian đối thoại đã trở thành nơi để những tâm tư, nguyện vọng của các em học sinh lần đầu được bộc bạch một cách chân thành nhất.

Trẻ em Xơ Đăng trả lời về nguyện vọng có muốn đi học hay không. Ảnh: TTXVN phát

Trẻ em Xơ Đăng trả lời về nguyện vọng có muốn đi học hay không. Ảnh: TTXVN phát

Tại các buổi gặp gỡ này, chính quyền địa phương không chỉ tuyên truyền về quyền trẻ em hay các chính sách giáo dục, mà còn cùng phụ huynh phân tích sâu sắc về những hệ lụy của việc thiếu con chữ trong tương lai. Qua đó, các bên cùng thảo luận để tìm ra giải pháp tháo gỡ khó khăn, từ việc hỗ trợ đồ dùng học tập đến việc quản lý thời gian của học sinh tại cộng đồng. Đáng chú ý, lực lượng chức năng đã trực tiếp ký cam kết đồng hành, hỗ trợ cho khoảng 50 học sinh thường xuyên vắng học quay trở lại lớp và duy trì việc đi học chuyên cần.

Ông Võ Trung Mạnh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Tu Mơ Rông đánh giá, diễn đàn đã bước đầu tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của người dân, từng bước “cởi trói” tư duy phó mặc giáo dục cho nhà trường. Sau diễn đàn, nhiều gia đình đã chủ động thay đổi, lắng nghe con cái và phối hợp chặt chẽ với giáo viên để theo sát lộ trình học tập của các em. Đây chính là tiền đề quan trọng giúp ổn định sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục vùng cao.

Trẻ em Xơ Đăng trả lời về nguyện vọng có muốn đi học hay không. Ảnh: TTXVN phát

Trẻ em Xơ Đăng trả lời về nguyện vọng có muốn đi học hay không. Ảnh: TTXVN phát

Theo kế hoạch, xã Tu Mơ Rông sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình này tại 12 thôn còn lại trong thời gian tới. Đặc biệt, địa phương sẽ triển khai song song diễn đàn “Lắng nghe chị em nói, cùng chị em chuyển đổi số” nhằm giúp phụ nữ Xơ Đăng thay đổi cách nghĩ, cách làm trong phát triển kinh tế. Việc kết hợp giữa nâng cao nhận thức giáo dục và cải thiện đời sống kinh tế chính là cách cụ thể hóa Nghị quyết Đảng bộ xã vào thực tiễn, hướng tới mục tiêu xóa bỏ tâm lý tự ti, xây dựng một cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển toàn diện và bền vững./.

Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Mang Tết Trung thu ấm áp đến trẻ em vùng biên Na Ngoi

Mang Tết Trung thu ấm áp đến trẻ em vùng biên Na Ngoi

Tối 12/9 tại Trường Liên cấp Na Ngoi, tỉnh Nghệ An, chương trình “Trăng thu biên cương” được tổ chức với nhiều hoạt động thiết thực, mang đến không khí Trung thu vui tươi, ấm áp cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại địa bàn biên giới.

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Từ tối 11 đến chiều 12/9, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra mưa vừa đến mưa to và có nơi có dông. Đặc biệt, ở khu vực biên giới của tỉnh, mưa lớn kéo dài nhiều giờ khiến mực nước trên các sông, suối dâng cao, một số tuyến đường bị ngập, gây ách tắc và chia cắt tạm thời một số nơi.

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Sau nhiều ngày mưa lớn gây ngập lụt, sạt lở tại nhiều khu vực, ngày 11/9, khi nước tại một số nơi bắt đầu rút, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng khẩn trương huy động lực lượng hỗ trợ người dân dọn dẹp nhà cửa, đường sá, khắc phục hậu quả; đồng thời rà soát, đánh giá thiệt hại và chủ động phương án ứng phó trước nguy cơ mưa lớn tiếp diễn.

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Liên quan đến vấn đề tồn đọng hồ sơ đất đai tại Đắk Lắk mà phóng viên TTXVN đã phản ánh, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành văn bản số 14151/UBND-PVHCC, ngày 10/9 về việc tăng cường phối hợp giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, hạn chế phát sinh hồ sơ quá hạn. Trong đó, yêu cầu các địa phương kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với những chậm trễ trước đó.

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Chiều 10/9, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3, tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thông báo thực hiện việc xả lũ hồ Hạ (thuộc dự án hồ Gia Nghĩa). Theo đó, từ 17 giờ 00 phút cùng ngày, đơn vị sẽ bắt đầu thực hiện việc xả lũ theo quy trình đã được phê duyệt.

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Tây Ninh là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, với cộng đồng dân cư đa dạng về dân tộc, tôn giáo. Bằng những chính sách thiết thực, đồng bộ, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng lên, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Trải qua thăng trầm của thời gian và những khắc nghiệt của thời tiết, hơn một thế kỷ qua, những đồi chè cổ thụ ở thôn Lộc Thanh, xã Bình Minh, tỉnh Quảng Ngãi vẫn bám rễ sâu vào lòng đất.

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk, trong những ngày tới địa bàn tỉnh có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và dông, tổng lượng mưa phổ biến từ 100-150mm, có nơi trên 200mm. Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai giải pháp phòng chống thiên tai, đồng thời yêu cầu các hồ chứa chủ động điều tiết nước, đón lũ ứng phó với mưa lớn trong thời gian tới.

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Vũ Việt Văn thông tin, để tiếp tục hoàn thành mục tiêu 10.000 căn nhà ở xã hội, tỉnh đang yêu cầu Sở Xây dựng tiếp tục hướng dẫn chủ đầu tư hoàn tất thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời rút ngắn tối đa thời gian thẩm định quy hoạch, thiết kế, cấp phép xây dựng thuộc thẩm quyền. Các địa phương phối hợp rà soát, điều chỉnh quy hoạch nếu cần thiết, bảo đảm các dự án nhà ở xã hội được triển khai đúng quy hoạch và đồng bộ hạ tầng.

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Năm học mới đã bắt đầu gần một tuần nhưng việc cung ứng sách giáo khoa tại Đắk Lắk vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Phụ huynh học sinh vẫn đang tìm mua để đủ sách cho con, tại một số trường học, học sinh mượn sách của các anh chị khóa trước, dùng chung sách với bạn để duy trì việc học.

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán nhưng lựa chọn gắn bó với lĩnh vực nuôi cấy mô thực vật, anh La Minh Phúc, dân tộc Dao, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) đã từng bước xây dựng cơ sở nuôi cấy mô của riêng mình. Hành trình chuyển hướng nghề nghiệp của anh là câu chuyện về sự kiên trì, dám thử sức với lĩnh vực mới, góp phần quan trọng cung ứng giống cây trồng chất lượng cho địa phương.