Gìn giữ văn hóa Thái: 'Nếu mình không gìn giữ, con cháu sẽ không còn biết đến nữa'

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Gìn giữ văn hóa Thái: 'Nếu mình không gìn giữ, con cháu sẽ không còn biết đến nữa'

Giữ nhịp cồng chiêng qua từng thế hệ

20 giờ mỗi tối, tại nhà văn hóa thôn Mường Lát, xã Mường Lát (Thanh Hóa) lại rộn ràng tiếng cười nói. Những chiếc cồng, chiếc chiêng được mang ra lau chùi cẩn thận trước khi từng nhịp chiêng vang lên giữa núi rừng. Không phải chờ đến lễ hội hay ngày Tết, người dân nơi đây vẫn duy trì những buổi sinh hoạt đều đặn như một phần không thể thiếu trong cuộc sống.

Ở tuổi 69, bà Hà Thị Thân, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Văn hóa dân gian xã Mường Lát, vẫn là người có mặt sớm nhất trong mỗi buổi tập.

7.jpg
Nghệ nhân Hà Thị Thân đánh trống trong buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ.

"Hôm nào cũng vậy, cứ đến tối là mọi người lại tập trung ở nhà văn hóa. Có lễ hội thì biểu diễn, không có lễ hội thì tập luyện. Chỉ khi mưa quá to hoặc mất điện mới nghỉ. Mưa nhỏ, các bà vẫn đội ô đi tập", bà Thân cho biết.

Đối với bà, cồng chiêng và khua luống không chỉ là tiết mục biểu diễn mà còn là hồn cốt của dân tộc Thái. Từ bao đời nay, tiếng cồng chiêng đã hiện diện trong lễ cưới, lễ hội, Tết cổ truyền và nhiều sự kiện quan trọng của cộng đồng.

3.jpg
5.jpg
Mỗi tối, các thành viên Câu lạc bộ Văn hóa dân gian xã Mường Lát lại tập trung tại nhà văn hóa thôn để luyện tập các tiết mục văn nghệ truyền thống.

Theo bà Thân, hầu như mỗi thôn, bản ở Mường Lát đều lưu giữ từ một đến ba bộ cồng chiêng. Những nhạc cụ ấy được truyền từ đời ông bà đến cha mẹ rồi tiếp tục trao lại cho con cháu như một báu vật của bản làng.

"Đây là nét văn hóa của dân tộc Thái, ông cha truyền lại nên chúng tôi phải giữ. Nếu mình không giữ thì sau này con cháu sẽ không còn biết đến nữa", bà Thân nói.

Điều khiến nghệ nhân yên tâm là lớp trẻ vẫn dành tình yêu cho văn hóa truyền thống. Câu lạc bộ văn hóa dân gian của xã hoạt động theo mô hình liên thế hệ, quy tụ thành viên từ thanh niên đến người cao tuổi. Những người đi trước kiên trì truyền dạy từng nhịp chiêng, từng điệu múa, từng bài dân ca cho lớp trẻ.

2.jpg
Chị Lường Tú Quyên thành viên trẻ tích cực tham gia các hoạt động của Câu lạc bộ Văn hóa dân gian xã Mường Lát.

Là một trong những thành viên trẻ của Câu lạc bộ Văn hóa dân gian xã Mường Lát, Lường Tú Quyên cho biết em tham gia với mong muốn học hỏi và góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

"Cồng chiêng là nét văn hóa rất đặc sắc của quê hương em. Em muốn học để sau này có thể tiếp tục truyền lại cho các thế hệ sau và lan tỏa những giá trị ấy đến nhiều người hơn”, Tú Quyên chia sẻ.

Không chỉ là nơi luyện tập văn nghệ, các câu lạc bộ còn trở thành không gian gắn kết cộng đồng. Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, toàn xã Mường Lát hiện duy trì nhiều đội văn nghệ và câu lạc bộ liên thế hệ hoạt động thường xuyên. Những buổi sinh hoạt giúp người cao tuổi rèn luyện sức khỏe, đồng thời tạo môi trường để lớp trẻ tiếp cận văn hóa truyền thống một cách tự nhiên.

Biến di sản thành động lực phát triển

Theo ông Mai Xuân Giang, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Lát, bảo tồn văn hóa hiện được địa phương xác định là nhiệm vụ gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội.

Những năm qua, xã Mường Lát đã đẩy mạnh tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của bản sắc văn hóa; đồng thời rà soát các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và làng nghề truyền thống để xây dựng kế hoạch bảo tồn lâu dài. Địa phương cũng đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận Đền Tư Mã Hai Đào là di tích lịch sử, từng bước phục dựng các lễ hội truyền thống, văn hóa ẩm thực và các loại hình văn hóa dân gian.

11.jpg
Vòng xòe đoàn kết tại buổi giao lưu văn hóa Thái xã Mường Lát.

Một trong những giải pháp được chú trọng là thành lập, duy trì hoạt động của các câu lạc bộ văn hóa dân gian và đội văn nghệ tại các thôn, bản. Từ những hạt nhân này, các làn điệu dân ca, tiếng cồng chiêng, điệu khua luống tiếp tục được trao truyền giữa các thế hệ. Nhiều câu lạc bộ còn kết nối với những người yêu văn hóa Thái ở nhiều địa phương khác, mở rộng không gian giao lưu và quảng bá bản sắc dân tộc.

Đáng chú ý, địa phương đang hướng tới phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa. Theo ông Giang, khi người dân nhìn thấy giá trị kinh tế từ văn hóa, họ sẽ càng có thêm động lực để gìn giữ những di sản của cha ông.

15.jpg
Ông Mai Xuân Giang, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Lát cho biết: "Hiện nay xã đã thành lập, duy trì hoạt động của các câu lạc bộ văn hóa dân gian và đội văn nghệ tại các thôn, bản và phục dựng nhiều nghi thức văn hóa".

Theo lãnh đạo UBND xã Mường Lát, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tạo thêm nguồn lực quan trọng cho công tác bảo tồn văn hóa.

Từ nguồn kinh phí của chương trình, địa phương tổ chức các lớp truyền dạy văn hóa truyền thống; sửa chữa, nâng cấp nhà văn hóa; hỗ trợ trang thiết bị cho các câu lạc bộ; tổ chức hội thi, hội diễn để các nghệ nhân có điều kiện biểu diễn, truyền nghề.

16.jpg
Ông Mai Xuân Giang, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Lát.

Song song với bảo tồn văn hóa, chương trình còn hỗ trợ người dân phát triển sinh kế thông qua các mô hình trồng rừng, chăn nuôi bò, lợn, gia cầm... Khi đời sống kinh tế từng bước được cải thiện, người dân cũng có thêm điều kiện để tham gia các hoạt động gìn giữ bản sắc văn hóa.

Tuy nhiên, hành trình bảo tồn vẫn còn nhiều khó khăn. Theo ông Mai Xuân Giang, nguồn kinh phí dành cho việc phục dựng di tích, khôi phục lễ hội và bảo tồn làng nghề còn hạn chế. Chính sách dành cho nghệ nhân và người có uy tín vẫn chưa thực sự tương xứng với vai trò của họ. Đây là một trong những nguyên nhân khiến việc thu hút những người có năng lực tham gia gìn giữ văn hóa gặp không ít trở ngại.

Thời gian tới, UBND xã Mường Lát sẽ tiếp tục phát huy, tăng nguồn lực cho công tác bảo tồn, đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng và phát huy hơn nữa vai trò của các nghệ nhân, già làng, trưởng bản trong việc truyền dạy văn hóa, xóa bỏ hủ tục và xây dựng đời sống văn hóa mới.

Nghị định số 269/2026/NĐ-CP của Chính phủ "Quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số" quy định: Dự án phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số do tổ, nhóm cộng đồng thực hiện được hỗ trợ khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Được triển khai tại địa bàn đã được cơ quan có thẩm quyền thống kê, đánh giá hoặc xác định có nhu cấu phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. truyền thống;

b) Có từ 50% số người tham gia dự án là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; ưu tiên dự án có sự tham gia của người thuộc dân tộc thiểu số rất ít người, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, người có công với cách mạng và phụ nữ thuộc hộ nghèo;

c) Bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực và các điều kiện cần thiết khác để triển khai dự án. Căn cứ điều kiện thực tiễn của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể các điều kiện quy định tại điểm này.

Hoàng Bằng/Báo Tin tức và Dân tộc
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Bạn bè quốc tế trải nghiệm văn hóa Việt

Bạn bè quốc tế trải nghiệm văn hóa Việt

Trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai năm 2026, ngày 2/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phối hợp với Ban Tổ chức Lễ hội tổ chức chương trình đón tiếp đoàn đại biểu quốc tế tham quan, trải nghiệm tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội).

Du khách quốc tế trải nghiệm sắc màu văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Du khách quốc tế trải nghiệm sắc màu văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Với thông điệp tôn vinh sự đa dạng văn hóa và tăng cường kết nối giữa các cộng đồng, chương trình tham quan, trải nghiệm tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam là một hoạt động thiết thực trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phối hợp với Ban Tổ chức chương trình tổ chức.

Tết Khẩu Hó mừng lúa mới vùng biên

Tết Khẩu Hó mừng lúa mới vùng biên

Khi những thửa ruộng bước vào mùa lúa chín, đồng bào dân tộc Lào ở xã biên giới Mường Nhà, tỉnh Điện Biên lại đón Tết Khẩu Hó – Tết mừng lúa mới. 

Lễ cầu an của người Ba Na gửi gắm ước vọng bình yên, no đủ

Lễ cầu an của người Ba Na gửi gắm ước vọng bình yên, no đủ

Lễ cầu an của đồng bào Ba Na ở Tây Nguyên là nghi lễ truyền thống, gửi gắm mong ước về sức khỏe, bình yên, mùa màng bội thu. Được gìn giữ qua nhiều thế hệ, lễ hội còn là dịp gắn kết cộng đồng, trao truyền phong tục, cồng chiêng, điệu xoang và giá trị văn hóa đặc sắc.

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Lễ hội “Ăn mừng lúa mới” của đồng bào Giẻ Triêng tại xã Phước Chánh được tái hiện trang trọng, thể hiện lòng biết ơn Giàng và các vị thần linh. Đây còn là dịp cộng đồng sum họp, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống.

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Mang trong mình âm vang của cồng chiêng và tiếng đàn môi trầm bổng, những người có uy tín ở các xã miền núi Quảng Ngãi đang từng ngày lặng lẽ “giữ hồn” văn hóa Hre. Họ chính là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại, đưa âm nhạc truyền thống sống mãi giữa đại ngàn.

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Lư Thị Súng, bác sĩ người Mông (Tuyên Quang), lớn lên trong gia đình cận nghèo, từng vượt nhiều chặng đường đèo, những trở ngại về quan niệm, hủ tục... để đến trường, nỗ lực học tập trở thành bác sĩ. Sau nhiều năm học tập xa quê, chị trở về Mèo Vạc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, góp phần vào những đổi thay trong diện mạo của quê hương.

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Ngày 13/9, tại sân đua bò Chùa Rô (xã An Cư, tỉnh An Giang), UBND xã An Cư, Ban Quản trị Chùa Rô phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (VTV Nam Bộ) tổ chức Hội đua bò truyền thống Chùa Rô lần thứ XII năm 2026.

Tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống trong lễ cơm mới của người Thái

Tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống trong lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.