Lễ hội được tổ chức trong những ngày Katê nhằm tôn vinh Nghệ thuật làm gốm của người Chăm, đồng thời giới thiệu nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, sản phẩm OCOP, văn hóa và các điểm đến du lịch cộng đồng của Ninh Phước.
Tại các gian hàng, nhiều sản phẩm gốm từ những vật dụng quen thuộc như bình, chum, nồi... đến sản phẩm trang trí được giới thiệu tới người dân, du khách. Xen giữa không gian gốm là sắc màu thổ cẩm Mỹ Nghiệp, sản phẩm OCOP, sản vật và ẩm thực địa phương. Không chỉ mua sản phẩm, du khách còn có thể quan sát nghệ nhân thực hiện từng công đoạn và tham gia hoạt động trải nghiệm “Một ngày làm nghệ nhân gốm Bàu Trúc”. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, ẩm thực và quảng bá sản phẩm cũng được tổ chức để đưa công chúng đến gần hơn với di sản.
Nghệ nhân Châu Thị Nghiệp chia sẻ, nghề gốm đã theo nhiều thế hệ phụ nữ Chăm Bàu Trúc. Từ khi còn nhỏ, những người con trong làng đã nhìn bà, nhìn mẹ làm gốm rồi từng bước học cách chọn và xử lý đất, tạo hình, trang trí, nung sản phẩm. Tình yêu với gốm vì thế được hình thành từ chính cuộc sống thường ngày. Với các nghệ nhân, mỗi sản phẩm còn chứa đựng câu chuyện về làng nghề. Điều bà mong muốn là con cháu tiếp tục học nghề, hiểu giá trị của nghề và giữ được những kỹ năng mà các thế hệ đi trước đã trao truyền.
Nét riêng của gốm Bàu Trúc nằm ở phương thức làm gốm thủ công. Không bàn xoay, không khuôn đúc, đất, nước và lửa qua đôi bàn tay của người phụ nữ Chăm tạo nên từng sản phẩm. Trong đó lưu giữ tri thức dân gian, tập quán, ký ức và bản sắc của cộng đồng.
Theo ông Quảng Thúc Đoan, Chủ tịch UBND xã Ninh Phước, nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022. Gốm Bàu Trúc không đơn thuần là những sản phẩm được làm từ đất. Trong mỗi dáng bình, chiếc nồi, chiếc chum còn có bàn tay, nhịp sống, niềm tin và tâm hồn của nhiều thế hệ người Chăm. Để nghề tồn tại đến hôm nay là hành trình bền bỉ của những người làm gốm, trong đó nhiều nghệ nhân dù tuổi cao vẫn kiên trì truyền dạy cho con cháu.
Ông Quảng Thúc Đoan cho rằng, bảo tồn di sản là phải tạo điều kiện để di sản tiếp tục được thực hành, trao truyền và phát huy giá trị trong cuộc sống hôm nay. Vì vậy, địa phương sẽ tiếp tục tạo điều kiện để nghệ nhân truyền nghề cho thế hệ trẻ; khuyến khích hợp tác xã, cơ sở sản xuất nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm; tăng cường quảng bá, kết nối thị trường và gắn nghề gốm với du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng. Mục tiêu là vừa bảo vệ giá trị di sản, vừa tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.
Theo Chủ tịch UBND xã Ninh Phước, địa phương còn có làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp cùng nhiều giá trị văn hóa Chăm đặc sắc. Việc kết nối gốm, dệt thổ cẩm, Katê, văn hóa ẩm thực và trải nghiệm cộng đồng sẽ tạo thêm sản phẩm du lịch, đưa di sản trở thành một trong những nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, địa phương kỳ vọng thông qua những hoạt động như Lễ hội Gốm Chăm Bàu Trúc, thế hệ trẻ sẽ hiểu, yêu và tự hào hơn về nghề của quê hương, để tiếp tục có những bàn tay trẻ “giữ lửa” khi lớp nghệ nhân cao tuổi không còn trực tiếp làm nghề.
Cùng với các hoạt động trưng bày, trình diễn và trải nghiệm nghề, câu chuyện về gốm được chuyển tải bằng ngôn ngữ nghệ thuật qua chương trình “Hồn gốm Bàu Trúc”. Hòa tấu nhạc cụ Chăm, dân ca, các tiết mục “Tiếng gọi của đất”, “Đất nung”, múa “Hồn gốm Bàu Trúc”, “Tình làng gốm”, múa “Sắc màu thổ cẩm Mỹ Nghiệp” và “Trống hội Katê” tái hiện đời sống văn hóa, con người và hành trình của nghề gốm.
Điểm nhấn cuối chương trình là nghi thức “Ngọn lửa Bàu Trúc”. Trong tiếng trống Ginăng, Paranưng và kèn Saranai, lửa được thắp sáng, các đội múa lu, múa quạt mở vòng múa quanh ngọn lửa và mời người dân, du khách cùng tham gia. Ngọn lửa được lựa chọn như biểu tượng của đất, nghề và sự tiếp nối giữa các thế hệ. Với người dân và nghệ nhân thôn Bàu Trúc, lễ hội không chỉ là giới thiệu sản phẩm, mà còn là cơ hội để người làm nghề gặp gỡ khách hàng, giới thiệu câu chuyện phía sau mỗi sản phẩm và để lớp trẻ trực tiếp nhìn, làm, hiểu nghề của cha ông.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn