Kỹ thuật chế tác độc đáo của nghề gốm Bàu Trúc

Kỹ thuật chế tác độc đáo của nghề gốm Bàu Trúc

Hình ảnh làng gốm Bàu Trúc (Khánh Hòa) gắn liền với những sản phẩm thủ công tinh xảo, mang đậm dấu ấn văn hóa đặc sắc của người Chăm.

Độc đáo gốm người xoay

Ông Nái Đôm, nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc cho biết: Nét độc đáo của làng nghề chính là công đoạn làm gốm của các nghệ nhân. Dù đã có nhiều công cụ hiện đại áp dụng vào ngành gốm, nhưng bà con tại làng Bàu Trúc vẫn duy trì phương thức làm thủ công. Thay vì dùng những chiếc bàn xoay khi nặn những chiếc bình, chiếc lọ, nghệ nhân nơi đây lại dùng bàn chân để xoay quanh một chiếc bàn cố định, dùng tay nặn, nắn, miết để biến một cục đất trở thành một sản phẩm theo ý mình.

Điểm đặc biệt nữa trong kỹ thuật làm gốm Bàu Trúc nằm ở việc chế tác. Những người phụ nữ “làm bằng tay, xoay bằng mông”. Người thợ đi giật lùi, tay trong thì ép, tay ngoài thì xoa, khéo léo thổi hồn cho từng khối đất thô trở thành những tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Đất sét được tạo dáng hình quả bí đặt lên bàn kê; người thợ vừa đi giật lùi xung quanh bàn kê, vừa dùng tay tạo hình sản phẩm ban đầu cho khối đất sét. Người thợ dùng từng lọn đất sét khác ráp nối với phần gốm cơ bản ban đầu để nâng thân gốm cao dần lên, sau đó bắt đầu tạo kiểu gốm theo ý tưởng của mình. Công đoạn này người thợ dùng vải cuộn xếp thành 2 - 3 lớp để thấm nước chà láng thân gốm. Sau khi chà láng thân gốm thì bắt đầu công đoạn tạo hình cho miệng gốm được uốn lượn theo nét đặc trưng riêng của gốm Bàu Trúc.

Đường vào làng nghề gốm Bàu Trúc.

Đường vào làng nghề gốm Bàu Trúc.

Nhà sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Chăm làng nghề gốm Bàu Trúc.

Nhà sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Chăm làng nghề gốm Bàu Trúc.

Cổng vào Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc.

Cổng vào Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc.

Các nghệ nhân làng nghề gốm Bàu Trúc chăm chút tạo hình các sản phẩm gốm.

Các nghệ nhân làng nghề gốm Bàu Trúc chăm chút tạo hình các sản phẩm gốm.

Tất cả các sản phẩm gốm Bàu Trúc đều được các nghệ nhân và người thợ làm thủ công.

Tất cả các sản phẩm gốm Bàu Trúc đều được các nghệ nhân và người thợ làm thủ công.

Qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những sản phẩm gốm là các bình, lọ hoa bằng gốm với nhiều dáng vẻ rất đẹp.

Qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những sản phẩm gốm là các bình, lọ hoa bằng gốm với nhiều dáng vẻ rất đẹp.

Hoa văn trên các sản phẩm gốm Bàu Trúc được trang trí tự do, đường nét ẩn hiện tinh tế.

Hoa văn trên các sản phẩm gốm Bàu Trúc được trang trí tự do, đường nét ẩn hiện tinh tế.

Gốm Bàu Trúc được tạo tác từ đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Chăm, không có bàn xoay, không tráng men và được nung ngoài trời.

Gốm Bàu Trúc được tạo tác từ đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Chăm, không có bàn xoay, không tráng men và được nung ngoài trời.

Du khách thăm quan phòng trưng bày sản phẩm gốm tại HTX gốm Bàu Trúc.

Du khách thăm quan phòng trưng bày sản phẩm gốm tại HTX gốm Bàu Trúc.

Sản phầm gốm Bàu Trúc phần lớn là các loại bình, lọ hoa với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đẹp và độc đáo.

Sản phầm gốm Bàu Trúc phần lớn là các loại bình, lọ hoa với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đẹp và độc đáo.

Hoa văn trên các sản phẩm gốm Bàu Trúc được trang trí tự do, đường nét ẩn hiện tinh tế, chủ yếu có hình răng cưa, vỏ sò, sông nước, hoa lá thực vật. Ngoài các hoa văn trên gốm, còn sử dụng cả dấu bàn tay, móng tay, dùng màu thực vật, kỹ thuật hun khói làm màu áo để gốm có màu sắc phong phú vừa mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng lại phảng phất nét cổ truyền, huyền bí mang đậm sắc thái văn hóa của đồng bào Chăm độc đáo, quyến rũ và rất đặc sắc.

Theo anh Thuận, Giám đốc Hợp tác xã gốm Bàu Trúc, ngày nay làng gốm Bàu Trúc không chỉ sản xuất đồ gốm gia dụng mà còn mở rộng sang các dòng gốm mỹ nghệ như tượng Apsara, tháp Chăm, bình hoa, đồ phong thủy… Không chỉ được ưa chuộng trong nước, gốm Bàu Trúc còn xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế như Nga, Mỹ, Ý, Nhật Bản. Điều này góp phần khẳng định giá trị văn hóa của làng nghề ở Khánh Hòa trên bản đồ thế giới.

Ngày nay, nhiều nam giới cũng đã tham gia sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường, nhưng tinh thần gìn giữ nghề truyền thống vẫn được duy trì. Các nghệ nhân ở làng nghề gốm Bàu Trúc hiện tạo ra 3 dòng sản phẩm chính gồm gốm gia dụng, gốm tâm linh và gốm mỹ nghệ. Nhờ hoạt động du lịch trải nghiệm ngày càng phát triển, các sản phẩm gốm nơi đây được quảng bá rộng rãi. Điều này góp phần nâng cao thu nhập và khẳng định giá trị văn hóa đặc sắc của người Chăm.

Ông tổ nghề gồm trong đời sống cộng đồng Chăm

Theo các nghệ nhân cao niên ở làng gốm Bàu Trúc, tổ nghề của làng gốm Bàu Trúc là Po Klaong Can, một vị nam thần. Theo truyền thuyết, Po Klaong Can thuở thiếu thời là bạn mục đồng với vua Po Klaong Garai (1151 - 1205). Khi Po Klaong Garai trở thành vua, có ngỏ ý mời Po Klaong Can làm quan nhưng ngài từ chối cáo lui về quê ẩn giật. Về sau, đất nước có biến, ngài đưa dân làng Bàu Trúc về định cư ở “làng cũ” (Palei Hamu Craok) lấy đất sét và dạy dân làm gốm. Từ đó, dân làng tự nhận Po Klaong Can là tổ nghề, xây hẳn một đền thờ để thờ ngài. Hàng năm, dân làng Bàu Trúc thường tổ chức cúng Tổ nghề 3 lần (vào tháng 1, tháng 4 và tháng 7 lịch Chăm) với các nghi thức như rước y trang, tắm tượng, mặc trang phục cho tượng thần, dâng lễ vật, đại lễ, trình diễn làm gốm và nghệ thuật ca múa nhạc dân gian đặc sắc để trình nghề và nhớ ơn tổ nghề.

Nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc đang chăm chút tỉa những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trên bình gốm.

Nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc đang chăm chút tỉa những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trên bình gốm.

Qua bàn tay khéo léo của những người thợ, những tác phẩm đang dần hình thành mang dáng vẻ nghệ thuật đặc sắc.

Qua bàn tay khéo léo của những người thợ, những tác phẩm đang dần hình thành mang dáng vẻ nghệ thuật đặc sắc.

Nghệ nhân Nái Đôm đang hoàn thiện tác phẩm.

Nghệ nhân Nái Đôm đang hoàn thiện tác phẩm.

Du khách nước ngoài trải nghiệm thử làm sản phẩm gốm Bàu Trúc.

Du khách nước ngoài trải nghiệm thử làm sản phẩm gốm Bàu Trúc.

Sản phẩm gốm truyền thống chủ yếu là vật dụng phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, đồ dùng trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, như nồi, niêu, chum, phù điêu, đèn gốm và những sản phẩm gốm mỹ nghệ dùng để trang trí như các loại tượng, tháp Chăm và chậu hoa, lọ hoa...

Sản phẩm gốm truyền thống chủ yếu là vật dụng phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, đồ dùng trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, như nồi, niêu, chum, phù điêu, đèn gốm và những sản phẩm gốm mỹ nghệ dùng để trang trí như các loại tượng, tháp Chăm và chậu hoa, lọ hoa...

bt13.jpg
Mỗi sản phẩm gốm Chăm đều mang tính độc bản, thể hiện dấu ấn của nghệ nhân trên từng sản phẩm.
Du khách thăm quan các sản phẩm làng nghề làm gốm Bàu Trúc.

Du khách thăm quan các sản phẩm làng nghề làm gốm Bàu Trúc.

Những sản phẩm gốm đặc sắc đậm chất nghệ thuật đang chờ xuất xưởng.

Những sản phẩm gốm đặc sắc đậm chất nghệ thuật đang chờ xuất xưởng.

Những sản phẩm gốm Bàu Trúc qua lăng kính của những người thợ đã phản ánh đời sống thường nhật, dấu ấn văn hóa và gửi gắm những khát vọng tươi đẹp của cộng đồng dân cư.

Những sản phẩm gốm Bàu Trúc qua lăng kính của những người thợ đã phản ánh đời sống thường nhật, dấu ấn văn hóa và gửi gắm những khát vọng tươi đẹp của cộng đồng dân cư.

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2022.

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2022.

Tồn tại từ khoảng cuối thế kỷ 12 đến nay, Bàu Trúc được xem là một trong số rất ít những làng gốm cổ ở Đông Nam Á còn lưu giữ kỹ thuật làm gốm thô sơ của người Sa Huỳnh cách đây khoảng 3.000 năm. Ngoài nghệ thuật làm gốm bằng tay với nhiều bí quyết và tri thức dân gian độc đáo, Bàu Trúc vẫn còn lưu giữ làng nghề cổ truyền theo chế độ mẫu hệ với nhiều nghi lễ, hội hè và nghệ thuật ca múa nhạc dân gian đặc sắc diễn ra hàng năm.

Vì thế làng gốm Bàu Trúc trở thành điểm nhấn du lịch làng nghề của tỉnh Khánh Hòa, thu hút nhiều du khách đến tham quan, trải nghiệm. Nơi đây, không chỉ trình diễn gốm mà còn gắn gốm với nghệ thuật ca múa nhạc và ẩm thực truyền thống phục vụ nhiều đoàn khách tham quan trong nước và quốc tế.

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh là sự khẳng định bản sắc văn hóa độc đáo của Việt Nam trong kho tàng di sản văn hóa thế giới, đồng thời tạo hiệu ứng tích cực, góp phần nâng cao nhận thức của công chúng và chính quyền địa phương trong việc tổ chức các hoạt động nhằm bảo tồn, phát huy và tạo sức sống mới cho di sản. Từ đó cũng truyền cảm hứng để giới trẻ gắn bó, tiếp nối nghề làm gốm của cha ông.

Đặc biệt, sau khi nghệ thuật làm gốm Chăm được UNESCO ghi danh đã thu hút khách du lịch đến với làng gốm nhiều hơn, giúp cộng đồng cư dân có thêm nguồn lực, củng cố niềm tự hào và nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của chính họ.

Bài, ảnh, video: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc (Tin sản xuất)
Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.