Hỗ trợ pháp lý để giúp đưa đặc sản vùng cao vào chuỗi giá trị xuất khẩu

Đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều lợi thế để vươn ra thị trường thế giới, nhưng cần tổ chức lại sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Phóng viên đã có trao đổi với ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam về nội dung đưa hàng hoá vùng đồng bào vào chuỗi giá trị xuất khẩu.

Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về mức độ sẵn sàng xuất khẩu của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đặc sản vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay? Đâu là những rào cản khiến cho doanh nghiệp chưa thể chuyển hóa lợi thế riêng của sản phẩm thành năng lực sản xuất cũng như xây dựng thương hiệu trên thị trường quốc tế?

Doanh nghiệp vùng cao đã sẵn sàng về mặt sản phẩm, nhưng chưa thực sự sẵn sàng về năng lực cho xuất khẩu, tức là năng lực đi ra thế giới chưa được chuẩn bị.

Chúng ta có sản phẩm, có thể nói là những sản vật vùng cao, có sự khác biệt so với thế giới, từ điều kiện tự nhiên, giống, phương thức gieo trồng và đặc biệt là những câu chuyện liên quan đến văn hóa cộng đồng, lịch sử, nguồn gốc của sản phẩm. Đây là lợi thế của chúng ta.

Những lợi thế này chỉ thực sự được chuyển hóa thành giá trị thương mại khi đi cùng quy trình sản xuất phù hợp, ứng dụng công nghệ, kiểm nghiệm chất lượng, hoàn thiện bao bì, truy xuất nguồn gốc và xây dựng hệ thống phân phối hiệu quả.

thn.jpg
Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đánh giá đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều lợi thế để vươn ra thị trường thế giới.

Thị trường quốc tế rất quan tâm đến những sản phẩm bền vững và đây là xu hướng ngày càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, để tạo thành một thị trường, chúng ta phải bảo đảm chất lượng và quy trình sản xuất tốt, khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Đây là những yêu cầu của thị trường quốc tế và là điều kiện để sản phẩm có được thế đứng ổn định.

Về rào cản, theo tôi, vấn đề cần tìm mọi cách tháo gỡ là chuyển được lợi thế thành giá trị thương mại.

Chúng ta có vùng nguyên liệu, điều kiện tự nhiên thuận lợi và những câu chuyện văn hóa rất tốt, nhưng sản xuất phục vụ thị trường quốc tế đòi hỏi phải có quy trình, công nghệ, kiểm nghiệm, bao bì, đặc biệt là truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp nhỏ gặp nhiều khó khăn về truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, phải tổ chức được hệ thống phân phối, bởi đây là yếu tố sống còn.

Hiện nay, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hợp tác xã gần như phải tự làm tất cả các khâu. Trong khi đó, quy mô lao động, vốn và thông tin đều hạn chế nhưng lại phải đáp ứng nhiều yêu cầu của thị trường quốc tế. Đây chính là khó khăn lớn.

OECD cũng như nhiều tổ chức quốc tế đánh giá doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hợp tác xã của Việt Nam, chưa thực sự tạo được dấu ấn khi tham gia thị trường quốc tế.

Nếu nhìn theo hướng tích cực, đây là vấn đề chúng ta phải làm thế nào để rút ngắn khoảng cách, để doanh nghiệp nhỏ và vừa thực chất được tham gia vào chuỗi và thị trường quốc tế.

Muốn sản vật, hàng hóa Việt Nam đi xa, có thế đứng ổn định thì phải có sự phối hợp nhịp nhàng từ việc xây dựng chính sách, trong đó chính sách hỗ trợ phải được quan tâm, đến sự tham gia của các chủ thể. Đồng thời, các chủ thể phải có nhận thức đầy đủ về thị trường quốc tế và chung tay thực hiện.

ca-phe.jpg
Công nhân Công ty TNHH sản xuất và thương mại Vương Thành Công (Đắk Lắk) thu hoạch cà phê. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Theo ông, cần tổ chức liên kết như thế nào giữa các chủ thể sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu, hệ thống phân phối và các đơn vị cung ứng dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh cho đặc sản vùng cao? Cần cơ chế, chính sách gì để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị xuất khẩu?

Chúng ta đang có thói quen bán những gì mình có , mà chưa quan tâm đầy đủ đến yêu cầu của thị trường. Ví dụ, bán một gói hàng to trong khi người tiêu dùng cần những gói hàng nhỏ. Cần thay đổi thói quen này, không thể chỉ bán sản phẩm mình có mà phải quan tâm đến nhu cầu của thị trường.

Để biết thị trường cần gì, nhân lực phát triển thị trường và nhân lực bán hàng phải đóng vai trò quan trọng trong xây dựng chuỗi, xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đây là lực lượng nắm được nhu cầu của người mua và cung cấp thông tin trở lại.

Từ yêu cầu của thị trường, các cơ quan chức năng, hiệp hội, đoàn thể, doanh nghiệp, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cùng các kênh thông tin cần xây dựng thành bộ tiêu chuẩn phù hợp với thị trường nhưng không làm mất đi ý nghĩa độc đáo của sản vật.

Sản phẩm vùng cao không chỉ nên được nhìn nhận là sản phẩm của một doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất hay địa phương, mà phải trở thành một giá trị, một chuỗi liên kết, chuỗi giá trị với sự tham gia của các chủ thể.

Theo tôi, chính sách hỗ trợ cũng cần chuyển từ hỗ trợ nhỏ lẻ từng doanh nghiệp sang hỗ trợ theo chuỗi, tập trung vào đúng điểm nghẽn như quản trị, kiểm nghiệm, chứng nhận, sở hữu trí tuệ, logistics và các hạ tầng dùng chung.

Từ trước đến nay, khi doanh nghiệp thiếu đào tạo về quản trị thì hỗ trợ quản trị theo từng doanh nghiệp. Cách làm này cần thay đổi. Phải hỗ trợ theo chuỗi, theo từng vùng sản xuất. Một hộ nông dân vùng cao dù được hỗ trợ quản trị nhưng nếu thiếu doanh nghiệp khác hỗ trợ theo chuỗi thì cũng khó theo kịp. Phải có sự tham gia của các chủ thể khác mới tạo nên sức mạnh.

Bên cạnh đó, hỗ trợ phải tập trung vào những khó khăn cụ thể. Chi phí kiểm nghiệm hoặc chứng nhận quốc tế rất đắt, chưa kể chi phí sở hữu trí tuệ. Chi phí kiểm nghiệm một container là 8.000 - 10.000 USD, đây là vấn đề rất khó đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Vì vậy, cần quan tâm đến các giải pháp dùng chung như kho lạnh dùng chung, cơ sở dữ liệu dùng chung, kiểm nghiệm và chứng nhận chất lượng. Những hạ tầng và dịch vụ này giúp doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã giảm chi phí, nâng cao năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Chính sách hỗ trợ cũng cần đặt vấn đề làm sao để sản phẩm, doanh nghiệp được tham gia nhiều nhất vào chuỗi giá trị quốc tế. Khi doanh nghiệp phát huy được lợi thế của mình thì mới tạo nên giá trị cao.

Hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia xuất khẩu nhiều, theo chúng tôi có khoảng 4,8%, nhưng con số cuối cùng phải đo được tỷ trọng xuất khẩu. Có như vậy mới thực hiện được chủ động về kinh tế, doanh nghiệp Việt Nam mới xuất khẩu bền vững và phần lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu mới được giữ lại trong đất nước.

Tôi nghĩ rằng liên kết chuỗi là rất quan trọng, và chúng ta phải làm một nghiêm túc và thực tế.

Hiệp hội đã, đang và dự kiến triển khai những hoạt động gì để nâng cao năng lực, kết nối nguồn lực và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đặc sản vùng cao, chủ động tham gia, tận dụng hiệu quả Chương trình GoGlobal và các hoạt động xúc tiến xuất khẩu, thưa ông?

Hiệp hội tập trung vào ba nhóm hỗ trợ chính. Đó là nâng cao năng lực và tích cực phối hợp với các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính để thông tin kịp thời đến doanh nghiệp.

Cùng với đó, kết nối các thị trường, từ thị trường tài chính đến thị trường công nghệ. Hiệp hội có nhiều chương trình phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, các tổ chức tín dụng, các định chế tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp.

Đặc biệt, chúng tôi sẽ phản ánh những vấn đề thực tế về chính sách, thực thi đến các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan vĩ mô, cơ quan quản lý chuyên ngành và các địa phương.

Đối với Chương trình GoGlobal, chương trình mang lại nhiều hy vọng cho doanh nghiệp và các nhà sản xuất Việt Nam. Theo tôi, chương trình không nên triển khai một cách cứng nhắc, chung chung mà phải có yếu tố phân loại dựa trên mức độ sẵn sàng của từng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nào đủ điều kiện tham gia thị trường quốc tế thì có thể hỗ trợ ngay; doanh nghiệp đã có những điều kiện cơ bản nhưng điều kiện đủ chưa đầy đủ thì phải tiếp tục nâng chuẩn; doanh nghiệp cần thời gian lâu hơn thì phải được hướng dẫn để thay đổi, hoàn thiện phù hợp hơn.

Chúng tôi dự kiến phối hợp với các bộ, ngành đưa ra khuyến nghị cho một số nhóm, xây dựng các tiêu thức để chẩn đoán năng lực, tiêu chí sản phẩm, sở hữu trí tuệ, tài chính... Qua đó, từng doanh nghiệp có công cụ hỗ trợ phù hợp.

Hiệp hội sẽ phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với các bộ, ngành và thị trường; đồng thời kỳ vọng Chương trình GoGlobal được triển khai sâu rộng tới cấp cơ sở, từng vùng sản xuất và từng doanh nghiệp, qua đó bảo đảm chính sách hỗ trợ thực sự đến đúng đối tượng và phát huy hiệu quả.

Chúng tôi hy vọng chương trình quan tâm hơn đến các địa phương ở cấp xã, để có thể thẩm thấu vào từng vùng sản xuất, từng vùng, từng doanh nghiệp.

Trân trọng cảm ơn ông!

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc

Có thể bạn quan tâm