Giữ gìn tiếng nói, bản sắc đồng bào dân tộc Sán Dìu

Giữ gìn tiếng nói, bản sắc đồng bào dân tộc Sán Dìu

Hơn 20 năm qua, Nghệ nhân Ưu tú Lục Văn Bảy (xã Sơn Thủy, Tuyên Quang) vẫn miệt mài sưu tầm, truyền dạy tiếng nói, giọng hát Soọng cô và phục dựng các giá trị văn hóa đồng bào dân tộc Sán Dìu.

Là người có uy tín ở thôn Ninh Phú, xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, nay là thôn Phú Quý, xã Sơn Thủy, tỉnh Tuyên Quang, Nghệ nhân Ưu tú Lục Văn Bảy đã dành hơn 20 năm sưu tầm, truyền dạy tiếng nói, giọng hát Soọng cô và phục dựng nhiều giá trị văn hóa của đồng bào Sán Dìu.

Với ông, giữ gìn bản sắc là giữ tiếng nói, làn điệu dân ca và những phong tục, tập quán truyền thống, góp phần giúp thế hệ trẻ hiểu và tiếp nối các giá trị văn hóa của dân tộc. Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc có cuộc trao đổi với ông Lục Văn Bảy về công tác bảo tồn, truyền dạy văn hóa đồng bào Sán Dìu.

2.jpg
Nghệ nhân Ưu tú Lục Văn Bảy đã dành hơn 20 năm sưu tầm, truyền dạy tiếng nói, giọng hát Soọng cô và phục dựng nhiều giá trị văn hóa của đồng bào Sán Dìu. Ảnh: Hoàng Bằng.

Thưa ông, trong hành trình gắn bó với công tác bảo tồn văn hóa Sán Dìu, đâu là động lực truyền cảm hứng thôi thúc ông theo đuổi công việc này suốt nhiều năm qua?

Động lực sâu sắc nhất của tôi bắt đầu từ năm 1991, khi tôi đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Lúc đó, đồng chí Hà Thị Khiết, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang, dẫn đoàn đến thăm Tổng Bí thư Đỗ Mười. Thấy tôi mặc áo xuân hè, thắt cà vạt, Bác Mười hỏi: “Dân tộc anh ăn mặc thế này à?”. Tôi thưa thật rằng trang phục truyền thống của dân tộc Sán Dìu là quần nâu, áo vải, nhưng nhờ Đảng và Bác Hồ nên đời sống của đồng bào đã tươm tất hơn. Bác Mười dặn tôi: “Anh là người con ưu tú của dân tộc thiểu số, về phải nói với đồng bào giữ lấy tiếng nói và bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đừng để nó mất đi”.

Lời dặn đó theo tôi suốt đời. Đến năm 2003, Sở Văn hóa đặt vấn đề phục dựng đám cưới và hát giao duyên Sán Dìu. Năm 2004, tôi đã đứng ra vận động các cán bộ lão thành, tìm kiếm những nghệ nhân hát giỏi, thành lập Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Ninh Lai do tôi làm chủ nhiệm tới nay.

Cũng trong năm ấy, Câu lạc bộ tổ chức tái hiện thành công đám cưới truyền thống. Sau đó, tôi tiếp tục tham gia thực hiện các hoạt động liên quan đến văn hóa Sán Dìu.

Năm 2008, tôi tham mưu cho Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Tuyên Quang thực hiện bộ phim truyền hình “Khát vọng” về văn hóa Sán Dìu và bộ phim đoạt giải Bạc tại Liên hoan phim toàn quốc. Năm 2013, tôi tiếp tục đóng vai chính trong phim “Truyền thuyết quả bầu”.

Ông đã bắt đầu việc sưu tầm và truyền dạy văn hóa dân tộc mình như thế nào?

Ban đầu, khó khăn nhất là tiếng nói, tiếng hát của mình đã bị mai một khá lâu, từ những thập niên 70 đến nay đã mấy chục năm. Vì thế, thế hệ từ 40 tuổi trở xuống hầu như không nắm được gì, kể cả tiếng nói Sán Dìu cũng ít khi sử dụng.

Khó khăn nữa là giới trẻ ban đầu không hâm mộ bộ môn này, nên tôi phải tìm đến những người từ 50 tuổi trở lên. Ban đầu tập hợp rất khó, trong cả xã chỉ có hơn 20 người tham gia. Tuy nhiên, sau một thời gian phát động phong trào, đến nay câu lạc bộ đã phát triển lên hơn 200 thành viên. Từ chỗ chỉ có một câu lạc bộ ở xã, tôi đã tách ra 3 cụm và hiện nay phát triển thành 6 câu lạc bộ.

Hằng năm, chúng tôi chủ yếu duy trì việc dạy cho các cháu học sinh biết nói tiếng Sán Dìu và hát một số bài cơ bản, qua đó làm sống lại bản sắc văn hóa dân tộc. Ban đầu một số cụ chưa cởi mở do nhận thức, nhưng nhờ công tác vận động và động viên kiên trì, dần dần phong trào đã cuốn hút các cụ tham gia. Hiện nay việc sưu tầm bài hát không còn quá khó khăn nữa.

3.jpg
Một buổi sinh hoạt hát Soọng cô của các thành viên trong Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Sơn Thủy. Ảnh: CTV.

Trong quá trình truyền dạy, ông đã làm thế nào để thu hút các cháu nhỏ tham gia, nhất là khi ban đầu các em chưa thực sự yêu thích?

Ban đầu rất khó, tôi phải dùng kẹo, từ người dân mang đến thắp hương khi lấy thuốc, để thưởng cho các cháu sau mỗi buổi tập. Dần dần các cháu yêu thích và thi nhau đến học. Tôi đã kiên trì làm việc này suốt 21 năm.

Điều tôi hạnh phúc và tâm đắc nhất là đến nay con cháu đã biết ru em, biết hát mời trầu, mời nước bằng tiếng Sán Dìu.

Chúng tôi cũng đào tạo các hạt nhân nòng cốt để tiếp nối việc dạy học. Tôi đã làm việc trực tiếp với hiệu trưởng các trường Tiểu học và THCS để đưa văn hóa vào trường học. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là lịch học văn hóa của các cháu quá dày đặc nên thời gian dành cho các hoạt động hè bị hạn chế.

Ngoài việc dạy tiếng nói và hát, tôi còn ghi lại toàn bộ các nghi lễ thờ cúng tổ tiên, các ngày Tết trong năm; vận động các thầy Hán Nôm phục dựng Lễ Đại Phan, nghi lễ đã được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của dân tộc Sán Dìu tỉnh Tuyên Quang vào năm 2023. Tôi cũng sưu tầm nhiều đồ dùng, hiện vật sinh hoạt ngày xưa của ông cha như cày, bừa, cối xay, cối giã để lưu giữ và cho khách cũng như học sinh đến tham quan, trải nghiệm.

Sau hơn 20 năm gắn bó với công việc bảo tồn, ông nhìn nhận thế nào về những điều kiện cần thiết để văn hóa Sán Dìu tiếp tục được trao truyền cho các thế hệ sau?

Việc bảo tồn văn hóa không thể chỉ dựa vào một vài cá nhân tâm huyết mà cần sự quan tâm, hỗ trợ cụ thể của các cấp, các ngành và chính quyền cơ sở.

Xã Ninh Lai, nay là Sơn Thủy, có trên 57% dân số là người Sán Dìu, đây là điều kiện thuận lợi để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay còn thiếu người có khả năng sưu tầm, biên dịch các câu hát, từ ngữ Sán Dìu sang tiếng Kinh. Vì vậy, cần phát huy vai trò của các đoàn thể, nhất là Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và ngành giáo dục. Tôi đã trực tiếp làm việc với hiệu trưởng các trường để đưa tiếng nói, dân ca và văn hóa Sán Dìu vào các hoạt động giáo dục.

Thời gian qua, các cơ quan báo chí, truyền hình cũng nhiều lần về ghi hình, giới thiệu về ẩm thực, trang phục, tiếng nói, bài hát và đời sống của đồng bào Sán Dìu. Chúng tôi còn đưa các đội văn nghệ tham gia nhiều hội thi, qua đó tạo điều kiện để các cháu thiếu nhi được thực hành và thể hiện tiếng hát dân tộc. Điều đáng mừng là hiện nay đã có nhiều cháu nhỏ biết hát bằng tiếng Sán Dìu.

Tuy nhiên, việc truyền dạy cho thế hệ trẻ vẫn gặp khó khăn. Vì vậy, chúng tôi chú trọng đào tạo những hạt nhân trẻ để các em có thể tiếp tục tham gia truyền dạy, góp phần duy trì tiếng nói và các giá trị văn hóa Sán Dìu trong cộng đồng.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Ngày 13/9, tại sân đua bò Chùa Rô (xã An Cư, tỉnh An Giang), UBND xã An Cư, Ban Quản trị Chùa Rô phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (VTV Nam Bộ) tổ chức Hội đua bò truyền thống Chùa Rô lần thứ XII năm 2026.

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Múa kỳ lân không chỉ tạo không khí rộn ràng trong những ngày lễ, Tết, mà còn thể hiện tinh thần thượng võ, khát vọng về cuộc sống bình an, no đủ của đồng bào Nùng. Loại hình nghệ thuật dân gian này đang được gìn giữ, quảng bá như một nét văn hóa đặc sắc của vùng cao Cao Bằng.

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa của người Nùng tại Cao Bằng được tổ chức vào “đắp nọi”, ngày cuối cùng của tháng Giêng âm lịch hằng năm. Nghi lễ truyền thống thể hiện lòng biết ơn thần linh, gửi gắm ước vọng về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản làng bình an, no ấm.

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Giàng Thị Sinh, cô gái dân tộc Mông vùng cao ở xã Sà Phìn (Tuyên Quang), đạt 27,31 điểm khối C00 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 và trúng tuyển ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội. Với Sinh, kết quả ấy là niềm vui sau những năm tháng cố gắng và cũng là bước đầu để em theo đuổi ước mơ trở thành cô giáo.

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.