Hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sóc Trăng

Phối cảnh cầu Đại Ngãi đi qua địa bàn huyện Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng) chuẩn bị được khởi công xây dựng. Dự kiến, sau khi hoàn thành, cầu Đại Ngãi sẽ giúp Cù Lao Dung tăng tốc trong phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: baosoctrang.org.vn
Phối cảnh cầu Đại Ngãi đi qua địa bàn huyện Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng) chuẩn bị được khởi công xây dựng. Dự kiến, sau khi hoàn thành, cầu Đại Ngãi sẽ giúp Cù Lao Dung tăng tốc trong phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: baosoctrang.org.vn

Tại Sóc Trăng, từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030, tỉnh đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện và đầu tư nhiều công trình cấp thiết. Bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số thêm khởi sắc và tạo điều kiện cho đồng bào phát triển kinh tế, tăng thu nhập, ổn định đời sống.

Hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sóc Trăng ảnh 1Phối cảnh cầu Đại Ngãi đi qua địa bàn huyện Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng) chuẩn bị được khởi công xây dựng. Dự kiến, sau khi hoàn thành, cầu Đại Ngãi sẽ giúp Cù Lao Dung tăng tốc trong phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: baosoctrang.org.vn

Phum sóc khởi sắc

Tuyến lộ giao thông nông thôn tại ấp Sóc Bưng (xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên) được xây dựng bằng bê tông với chiều dài gần 500m, rộng 3m, đưa vào sử dụng cuối năm 2022, tạo điều kiện cho hàng trăm hộ đồng bào dân tộc Khmer đi lại thuận lợi.

Ông Lý Văn Nâu, ở ấp Sóc Bưng chia sẻ, khi chưa có tuyến đường, người dân đi lại rất khó khăn vì đường sình lầy, thương lái không vào thu mua nông sản được nên đời sống bà con khó khăn. Tuyến đường hoàn thành, bà con rất phấn khởi bởi trẻ em đi học dễ dàng, người cao tuổi đi khám, chữa bệnh thuận tiện, thương lái vào tận ruộng mua hàng hóa. Từ đó, thu nhập của đồng bào Khmer địa phương được nâng cao.

Không chỉ được đầu tư đường giao thông nông thôn, năm 2022, chợ cũ xã Thạnh Phú được xây dựng mới với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng. Ông Trần Văn Sớt, Trưởng Ban Quản lý chợ xã Thạnh Phú cho biết, chợ cũ xuống cấp, bà con tiểu thương và người dân mua bán, trao đổi hàng hóa rất khó khăn. Khi được đầu tư xây dựng chợ mới, bà con phấn khởi, hoạt động mua bán sôi động hơn.

Ông Phú Việt Bền, Phó Chủ tịch UBND xã Thạnh Phú thông tin, xã có trên 57% dân số là đồng bào dân tộc Khmer. Nhờ được đầu tư hạ tầng, đời sống bà con có nhiều khởi sắc. Chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động bà con gìn giữ và sử dụng công trình lâu dài. Xã kiến nghị được hỗ trợ đầu tư thêm các công trình cơ sở hạ tầng để góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân.

Tại xã Liêu Tú, huyện Trần Đề, công trình cầu Ta Ốc với chiều dài 20 m, rộng 3,4 m có tổng vốn đầu tư trên 1,3 tỷ đồng được đưa vào sử dụng từ cuối năm 2022. Theo anh Tăng Rô Qui Sa, trước kia, bà con đóng góp kinh phí xây dựng cây cầu ngang 1m. Chiều ngang cầu hẹp, trẻ em đi học vào mùa mưa đã xảy ra tai nạn đáng tiếc. Bà con vận chuyển vật tư nông nghiệp khó khăn. Từ khi hoàn thành cầu Ta Ốc, nhân dân rất phấn khởi, đồng bào dân tộc Khmer cảm ơn Đảng, Nhà nước.

Ông Tè Văn Thành, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng) cho biết, sau 3 năm triển khai chương trình, huyện đã đầu tư hơn 10 công trình giao thông nông thôn, sửa chữa các tuyến giao thông đã xuống cấp với tổng kinh phí gần 10 tỷ đồng. Từ đầu năm 2023 đến nay, huyện phân bổ nguồn kinh phí hơn 5 tỷ đồng đầu tư hạ tầng ở những khu vực đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030 đã từng bước giúp cho cơ sở hạ tầng vùng đồng bào dân tộc Khmer, huyện Trần Đề ngày thêm hoàn thiện.

Huy động từ nhiều nguồn lực

Theo lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Chương trình tích hợp 118 chính sách với 10 dự án, 14 tiểu dự án, 36 nội dung chính sách thành phần, trong đó có nhiều chính sách tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ông Trần Khắc Trung, Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng cho biết, tỉnh có trên 35% là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó hơn 30% dân tộc Khmer. Chương trình đã góp phần từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng vùng nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn phát triển, sản xuất, cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc Khmer nói riêng.

Từ năm 2021- 2023, tổng nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng được phân bổ cho tỉnh trên 267 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương trên 236 tỷ đồng. Tính đến nay, tỉnh đã triển khai đầu tư mới 113 công trình, đường giao thông nông thôn, hạ tầng khu vực chợ, nhà sinh hoạt cộng đồng…, duy tu bảo dưỡng trên 50 công trình cơ sở hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.

Thời gian tới, tỉnh tiếp tục tập trung nguồn vốn đầu tư theo lộ trình kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2021 - 2025. Đặc biệt, tỉnh sẽ lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình như, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và các chương trình, dự án khác và huy động nguồn lực xã hội để triển khai đầu tư đồng bộ cơ sơ hạ tầng vùng đồng bào dân tộc Khmer; đồng thời, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tỉnh Sóc Trăng đặt ra mục tiêu đến năm 2025, cơ bản hoàn thiện xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc Khmer nói riêng.

Tuấn Phi

Tuấn Phi ((TTXVN))
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Hiện nay, tập quán nuôi chó thả rông, không xích nhốt và không đeo rọ mõm, đặc biệt tại khu vực nương rẫy trên địa bàn thành phố Đồng Nai vẫn còn rất phổ biến. Thực trạng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho virus dại lây truyền chéo giữa động vật hoang dã, chó thả rông và đàn chó nuôi tại các hộ gia đình.

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Trà Leng là vùng đất nổi tiếng với danh xưng “cao sơn ngọc quế” nhưng nơi đây cũng thường được nhắc đến như vùng “tâm chấn sạt lở” ở khu vực miền núi phía Tây thành phố Đà Nẵng.

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Trước diễn biến phức tạp của tình trạng sụt lún và nứt gãy tại đoạn Km136+800 - Km136+900 trên tuyến Quốc lộ 28, khu vực giáp ranh giữa xã Phúc Thọ Lâm Hà và xã Tà Đùng, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đang khẩn trương triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Từ xa xưa, nhà rông đã là không gian sinh hoạt chung, là biểu tượng văn hóa của buôn làng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.