Tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi được kết nối với những vấn đề cụ thể của sản xuất, đời sống và quản lý. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phát huy vai trò cầu nối, đưa tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học đến gần hơn với cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân.
Để tri thức đi vào đời sống
Sau kiện toàn tổ chức, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh có 18 hội thành viên, tập hợp khoảng 12.000 hội viên, trong đó khoảng 9.500 người có trình độ đại học trở lên. Đội ngũ này hoạt động trên nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế, giáo dục, pháp luật, kinh tế, văn hóa, tài nguyên, môi trường và khoa học kỹ thuật. Những năm qua, Liên hiệp Hội đã chú trọng đưa kiến thức khoa học, kỹ thuật về cơ sở. Giai đoạn 2021–2026, đơn vị tổ chức 38 hội thảo, hội nghị và 115 lớp tập huấn cho hơn 3.360 lượt học viên, tập trung vào kỹ thuật gieo trồng, chăn nuôi an toàn sinh học, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, nông nghiệp hữu cơ, chuyển đổi số và bán hàng trên sàn thương mại điện tử. Những hoạt động này góp phần giúp nông dân, thành viên hợp tác xã thay đổi phương thức sản xuất, quan tâm hơn đến chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thị trường tiêu thụ.
Tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tri thức khoa học chỉ phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành cách làm cụ thể, phù hợp với điều kiện của người dân. Từ lựa chọn giống, chăm sóc đến bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm, mỗi tiến bộ kỹ thuật được áp dụng đúng có thể giúp giảm chi phí, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả. Dự án bảo tồn, phát huy giá trị quần thể chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện sinh kế cho cộng đồng vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh là một ví dụ. Dự án không chỉ hướng đến bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học và giá trị của những cây chè cổ thụ, mà còn góp phần giúp cộng đồng nhận diện rõ hơn giá trị tài nguyên bản địa, nâng cao trách nhiệm gìn giữ và tạo thêm sinh kế.
Bên cạnh chuyển giao kỹ thuật, hoạt động tư vấn, phản biện mở thêm kênh để trí thức tham gia vào quá trình xây dựng chính sách. Giai đoạn vừa qua, Liên hiệp Hội đã hoàn thành 36 đề tài, dự án, nhiệm vụ và hội thảo tư vấn, phản biện; tham gia góp ý nhiều dự án luật, chương trình, đề án và văn bản liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Giá trị của phản biện không chỉ nằm ở việc bổ sung ý kiến cho một văn bản, mà còn ở khả năng phát hiện sớm những yếu tố chưa phù hợp khi chính sách đi vào cuộc sống. Với địa bàn rộng, điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng và trình độ phát triển giữa các khu vực còn khác nhau, tiếng nói của những chuyên gia vừa hiểu chuyên môn, vừa nắm chắc thực tiễn địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các chương trình, đề án sát thực tế và khả thi hơn.
Kết nối đúng người, giải quyết đúng việc
Nguồn lực trí thức của tỉnh Tuyên Quang khá đông đảo, nhưng việc chuyển tiềm năng đó thành những giải pháp có tác động rộng vẫn còn hạn chế. Sự gắn kết giữa Liên hiệp Hội với một số cơ quan nhà nước, doanh nghiệp chưa thật chặt chẽ; việc thu hút trí thức trẻ, trí thức trong doanh nghiệp và những người đang làm việc ngoài tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng. Một số hội thành viên còn thiếu nhân lực, kinh phí, chưa phát huy đầy đủ khả năng tư vấn, phản biện chuyên ngành. Thực tế này đặt ra yêu cầu đổi mới cách tập hợp trí thức, chuyển từ kết nối chủ yếu theo tổ chức sang kết nối theo lĩnh vực chuyên môn và từng vấn đề cụ thể.
Một trong những hướng đi quan trọng là xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia dùng chung, từng bước hình thành mạng lưới trí thức trong và ngoài tỉnh. Dữ liệu cần thể hiện rõ chuyên ngành, kinh nghiệm nghiên cứu, lĩnh vực thực tiễn và khả năng tham gia tư vấn của từng người. Theo ông Cao Hồng Kỳ, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang, thời gian tới, Liên hiệp Hội chú trọng xây dựng mạng lưới chuyên gia theo từng lĩnh vực; tăng cường kết nối trí thức đang công tác tại các cơ quan, trường học, doanh nghiệp trong tỉnh với những người con quê hương làm việc tại các viện nghiên cứu, trường đại học ở ngoài tỉnh. Hoạt động tư vấn, phản biện và nghiên cứu sẽ hướng nhiều hơn vào những vấn đề mà tỉnh, doanh nghiệp và cơ sở đang cần giải quyết.
Việc kết nối cần được thực hiện theo hai chiều. Các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp chủ động đưa ra những vấn đề đang gặp khó khăn; Liên hiệp Hội tập hợp chuyên gia, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp. Ngược lại, đội ngũ trí thức cũng cần chủ động phát hiện vấn đề mới, cảnh báo nguy cơ và đề xuất sáng kiến, thay vì chỉ chờ được giao nhiệm vụ. Giai đoạn 2026 - 2031, Liên hiệp Hội đặt mục tiêu phát triển thêm ít nhất 2.000 hội viên liên kết; chủ trì từ 15 đến 20 đề tài, dự án, nhiệm vụ tư vấn, phản biện cấp tỉnh và triển khai ít nhất 5 đề tài, dự án khoa học, công nghệ về ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế - xã hội.
Các nhiệm vụ khoa học cần tránh dàn trải, tập trung vào những lĩnh vực tỉnh có tiềm năng và đang cần giải pháp. Trong nông nghiệp, đội ngũ trí thức có thể tham gia từ nghiên cứu giống, hoàn thiện quy trình sản xuất đến bảo quản, chế biến, truy xuất nguồn gốc, xây dựng nhãn hiệu và thị trường cho các sản phẩm đặc trưng như chè, cam, dược liệu, mật ong và lâm sản. Ở lĩnh vực lâm nghiệp, môi trường và du lịch, cần thêm các giải pháp quản lý rừng bền vững, phát triển sinh kế dưới tán rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo tồn đa dạng sinh học, số hóa di sản, quản lý điểm đến và quảng bá sản phẩm. Khoa học cũng cần được kết nối chặt hơn với doanh nghiệp, bởi đây là nơi nhận biết rõ những điểm nghẽn về quy trình, chất lượng, chi phí và thị trường.
Một yêu cầu khác là nâng cao giá trị của các cuộc thi, hội thi sáng tạo. Mục tiêu không chỉ là lựa chọn và trao giải, mà cần tiếp tục hỗ trợ những sản phẩm có triển vọng được hoàn thiện, thử nghiệm, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và kết nối với đơn vị có nhu cầu sử dụng. Để làm được điều đó, Liên hiệp Hội cần trở thành cầu nối bền chặt hơn giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân. Nhà khoa học cung cấp giải pháp; cơ quan quản lý tạo cơ chế; doanh nghiệp tổ chức ứng dụng, thương mại hóa; người dân trực tiếp thực hiện và phản hồi hiệu quả.
Thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là mở rộng đội ngũ, mà phải tạo môi trường để trí thức cống hiến đúng năng lực và các ý kiến khoa học được lắng nghe, sử dụng. Khi kết nối được đúng chuyên gia với đúng vấn đề, một ý tưởng có thể trở thành giải pháp, một kết quả nghiên cứu có thể trở thành sản phẩm và một ý kiến phản biện có thể góp phần nâng cao chất lượng chính sách. Đó cũng là cách để nguồn lực trí thức thực sự tham gia giải quyết những bài toán phát triển của Tuyên Quang trong giai đoạn mới./.