Khoa học đồng hành cùng sinh kế vùng chè di sản

Trong dòng chảy phát triển hôm nay, quần thể chè Shan tuyết cổ thụ đang được nhìn nhận không chỉ như một nguồn gen quý hiếm, mà còn là "di sản sống" cần được bảo tồn, phát huy gắn với nâng cao đời sống người dân. Và để đánh thức trọn vẹn giá trị ấy, khoa học đang được đặt vào vị trí đồng hành cùng cộng đồng địa phương.

Ngày 12/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo "Giải pháp thúc đẩy bảo tồn, phát huy giá trị quần thể cây di sản chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện sinh kế tỉnh Tuyên Quang".

Giữ nguồn gen quý giữa đại ngàn

tuyen-quang-120526-1.jpg
Ông Phượng Chàn Nu, Phó Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu (Tuyên Quang) phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN.

Sau hợp nhất, Tuyên Quang hiện là địa phương có diện tích chè lớn nhất cả nước với trên 27.500 ha, trong đó chè Shan tuyết chiếm hơn 19.000 ha. Đặc biệt, toàn tỉnh có trên 7.000 ha chè Shan tuyết cổ thụ cùng 1.629 cây được công nhận là "Cây Di sản Việt Nam".

Những vùng chè cổ thụ ấy phân bố chủ yếu ở các xã vùng cao như Cao Bồ, Hồ Thầu, Thông Nguyên, Nậm Dịch, Hồng Thái… nơi quanh năm sương mù bao phủ, khí hậu mát lạnh và gần như không chịu tác động của hóa chất công nghiệp. Chính điều kiện sinh thái đặc biệt ấy đã tạo nên thứ trà mang hương vị riêng biệt, hậu ngọt sâu và trở thành sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước đánh giá cao.

Tuy nhiên, phía sau những nương chè cổ thụ trăm năm tuổi vẫn còn không ít trăn trở. Nhiều cây chè đang đối diện nguy cơ già cỗi, sâu bệnh, suy giảm do biến đổi khí hậu và phương thức khai thác truyền thống thiếu bền vững. Phần lớn sản phẩm chè vẫn tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.

Ông Cao Hồng Kỳ, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang cho rằng, bảo tồn chè Shan tuyết cổ thụ không chỉ đơn thuần là giữ một loại cây đặc sản, mà còn là gìn giữ nguồn gen quý, không gian sinh thái và bản sắc văn hóa của đồng bào vùng cao.

Theo ông Cao Hồng Kỳ, muốn quần thể chè di sản phát huy được giá trị bền vững thì phải đặt khoa học, công nghệ và cộng đồng địa phương vào cùng một chuỗi liên kết. Khoa học không thể đứng ngoài thực tiễn, mà phải đi vào từng nương chè, từng bản làng để giúp người dân thay đổi tập quán sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm và từng bước cải thiện sinh kế.

Cũng từ tư duy ấy, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã chủ động phối hợp với các sở, ngành, chuyên gia, doanh nghiệp tổ chức hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà quản lý, nhà khoa học và cộng đồng cùng nhìn lại thực trạng, đề xuất giải pháp bảo tồn, khai thác hiệu quả quần thể chè Shan tuyết cổ thụ.

Ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang cho biết, ngành chè hiện đóng góp gần 690 tỷ đồng mỗi năm, chiếm khoảng 10% giá trị ngành trồng trọt của tỉnh. Toàn tỉnh đã có 104 sản phẩm chè đạt OCOP, trong đó có 3 sản phẩm đạt OCOP 5 sao quốc gia. Nhiều sản phẩm chè Shan tuyết đã xuất khẩu tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, để người dân thực sự sống được từ cây chè cổ thụ, địa phương cần phát triển cây chè theo hướng hữu cơ, đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và gắn sản phẩm trà với du lịch trải nghiệm, du lịch sinh thái đặc thù vùng cao.

Để người dân sống được từ chè cổ thụ

Ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN.

Ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN.

Một trong những điểm nhấn tại hội thảo lần này là câu chuyện khoa học được đưa xuống tận cộng đồng, trở thành động lực cho phát triển sinh kế bền vững.

Tại xã Cao Bồ, vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang đã triển khai dự án "Tăng cường năng lực bảo tồn, phát huy giá trị Quần thể cây di sản chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện sinh kế cho cộng đồng". Dự án nhận được sự hỗ trợ từ Chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu thuộc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP/GEF SGP).

Thông qua các hoạt động tập huấn, đã có hàng trăm lượt người dân được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc chè theo hướng hữu cơ, bảo vệ nguồn gen, xây dựng quy ước cộng đồng và phát triển du lịch trải nghiệm gắn với chè Shan tuyết cổ thụ.

Ông Tô Đức Hiện, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang cho biết, điều quan trọng nhất là giúp người dân trở thành chủ thể trong quá trình bảo tồn chè di sản. Khi cộng đồng hiểu được giá trị của cây chè cổ thụ, người dân sẽ chủ động hơn trong việc bảo vệ rừng, chăm sóc chè và xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương.

Theo ông Hiện, nhiều mô hình bước đầu đã cho thấy hiệu quả tích cực. Người dân dần thay đổi nhận thức, chú trọng hơn tới kỹ thuật thu hái, chăm sóc chè theo hướng hữu cơ thay vì khai thác tự phát như trước đây.

Ông Hoàng Văn Lương, Phó Chủ tịch UBND xã Cao Bồ chia sẻ, trước đây việc chăm sóc chè của người dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, chưa quan tâm nhiều tới bảo tồn lâu dài. Sau khi được tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật, nhiều hộ dân đã thay đổi cách làm, biết giữ cây chè cổ thụ, thu hái đúng kỹ thuật và chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm.

"Quan trọng nhất là người dân bắt đầu hiểu rằng giữ được cây chè cổ thụ cũng chính là giữ sinh kế cho con cháu sau này", ông Lương chia sẻ.

Không chỉ ở Cao Bồ, tại xã Hồ Thầu, nơi những nương chè Shan tuyết trải dài giữa mây núi, cây chè cổ thụ cũng đang mở ra hướng phát triển mới cho người dân địa phương.

Ông Phượng Chàn Nu, Phó Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu cho biết, những năm gần đây, cùng với sản xuất chè hữu cơ, địa phương đang từng bước khai thác du lịch trải nghiệm gắn với văn hóa trà và cảnh quan vùng cao. Du khách đến Hồ Thầu không chỉ để mua trà, mà còn muốn được tự tay hái chè, thưởng trà giữa núi rừng và tìm hiểu đời sống đồng bào bản địa.

Từ những nương chè cổ thụ, nhiều hộ dân vùng cao không chỉ có thêm nguồn thu nhập ổn định hơn mà còn nâng cao nhận thức về bảo tồn tài nguyên và gìn giữ di sản.

Tại hội thảo, nhiều ý kiến cũng đề xuất cần sớm hoàn thiện cơ chế đặc thù cho bảo tồn chè Shan tuyết cổ thụ; ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc; xây dựng mã số vùng trồng; thúc đẩy liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm trà di sản.

Giữa mây mù Tây Côn Lĩnh, những cây chè Shan tuyết cổ thụ vẫn âm thầm xanh qua hàng trăm năm như một phần linh hồn của núi rừng. Nhưng để "báu vật xanh" ấy thực sự trở thành động lực phát triển cho vùng cao, cần nhiều hơn những mùa thu hái, cần những bàn tay của người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và chính quyền cùng chung sức gìn giữ. Khi khoa học được áp dụng vào thực tiễn, những nương chè nơi đại ngàn có thể sẽ không chỉ cho ra những búp trà quý, mà còn mở ra con đường sinh kế bền vững cho cộng đồng các dân tộc vùng cao Tuyên Quang./.

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.