Nhân Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông năm 2026, hành trình đến bản Dê Chơ và bản du lịch cộng đồng Tù Lu - Tìa Ló mang đến cho du khách cơ hội khám phá thiên nhiên, tìm hiểu nghề truyền thống và trải nghiệm đời sống văn hóa của đồng bào vùng cao.
Hành trình qua mùa vàng
Từ phường Điện Biên Phủ, hành trình đến xã Pu Nhi đưa du khách theo những cung đường vùng cao uốn lượn, qua hồ Nậm Ngám trong xanh và bản làng thấp thoáng bên sườn núi. Càng đi, khung cảnh núi rừng càng mở rộng, những nếp nhà bình dị nằm xen giữa màu xanh cây cối, tạo nên vẻ yên bình đặc trưng của miền sơn cước.
Khung cảnh ruộng bậc thang trở thành điểm dừng chân để du khách chụp ảnh, lưu giữ những kỷ niệm trong hành trình khám phá Pu Nhi.
Điểm dừng chân là ruộng bậc thang bản Dê Chơ đang trong mùa lúa chín. Những thửa ruộng uốn lượn theo triền đồi, nối tiếp nhau quanh sườn núi. Sắc vàng của lúa hòa cùng màu xanh của rừng, những mái nhà và con đường nhỏ, tạo nên bức tranh thiên nhiên hấp dẫn du khách. Giữa không gian ấy, du khách thong thả đi dọc những lối nhỏ ven ruộng, dừng chân ngắm cảnh, chụp ảnh và cảm nhận nhịp sống của người dân địa phương.
Những bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Mông với gam màu nổi bật, hoa văn thêu tỉ mỉ càng làm cho khung cảnh thêm sinh động. Vẻ đẹp của ruộng bậc thang không chỉ nằm ở cảnh sắc mùa vàng mà còn gắn với quá trình lao động, canh tác của người dân. Những thửa ruộng trên địa hình đồi núi phản ánh kinh nghiệm sản xuất, sự cần cù và mối quan hệ mật thiết giữa con người với thiên nhiên. Khi lúa chín, thành quả lao động hiện lên trên từng thửa ruộng và tạo nên cảnh quan có sức hấp dẫn đối với du khách.
Sắc vàng mùa lúa chín trên ruộng bậc thang Pu Nhi.
Ông Hoàng Văn Tiến, du khách đến từ tỉnh Nghệ An, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của ruộng bậc thang Pu Nhi. Không chỉ thưởng thức cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, du khách còn có dịp cảm nhận vẻ bình dị của bản làng và cuộc sống gắn bó với ruộng đồng của đồng bào vùng cao.
Rời Dê Chơ, du khách tiếp tục hành trình đến Bản du lịch cộng đồng Tù Lu - Tìa Ló, tìm hiểu đời sống của đồng bào. Không chỉ tham quan, du khách được tìm hiểu nghề rèn nông cụ, dệt vải, thêu trang phục và vẽ sáp ong trên vải lanh, trực tiếp tham gia một số công đoạn dưới sự hướng dẫn của người dân địa phương. Thay vì chỉ ngắm nhìn hay chụp ảnh, du khách có thể quan sát đôi tay người thợ, thử thực hiện thao tác thủ công và lắng nghe câu chuyện về các nghề truyền thống được gìn giữ trong cộng đồng.
Đồng bào Mông vùng cao trải nghiệm giữa mùa vàng Pu Nhi.
Đánh thức tiềm năng du lịch
Tại không gian trải nghiệm vẽ sáp ong, những đường nét hoa văn dần được tạo nên từ đôi tay khéo léo của phụ nữ Mông. Trên nền vải lanh, từng nét sáp được đưa đi cẩn thận, đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì và kinh nghiệm. Mỗi công đoạn đều thể hiện kỹ năng của người làm và những tri thức văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Du khách trải nghiệm kỹ thuật tạo hoa văn trên vải lanh của phụ nữ dân tộc Mông tại bản Tù Lu – Tìa Ló.
Chị Lê Thúy Giang, du khách đến từ tỉnh Thanh Hóa ấn tượng khi người dân nơi đây vẫn giữ được nét mộc mạc và bản sắc truyền thống. Trực tiếp trải nghiệm vẽ sáp ong trên vải lanh giúp chị cảm nhận rõ hơn sự tỉ mỉ, khéo léo và kiên trì của người phụ nữ vùng cao. Với chị, việc được tận mắt quan sát và tự tay trải nghiệm khiến những giá trị văn hóa của đồng bào Mông trở nên gần gũi, dễ cảm nhận hơn.
Ở một góc khác, tiếng búa vang lên từ lò rèn, những thao tác thuần thục của người thợ và các công cụ lao động được chế tác thủ công gợi lên hình ảnh nghề nghiệp gắn bó lâu đời với đời sống sản xuất. Việc giới thiệu nghề rèn ngay trong không gian bản làng giúp du khách hiểu thêm về công việc thường ngày của người dân, tạo cơ hội để nghề truyền thống được biết đến rộng rãi hơn.
Du khách trải nghiệm giã bánh dày truyền thống cùng người dân trong hoạt động giới thiệu văn hóa ẩm thực dân tộc Mông tại xã Pu Nhi.
Hoạt động giã bánh giầy cũng thu hút sự chú ý của nhiều du khách. Những nhịp chày đều đặn, sự phối hợp giữa các thành viên tạo nên không khí sôi nổi. Với đồng bào Mông, bánh giầy là món ăn truyền thống gắn với phong tục, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Được trực tiếp tham gia giã bánh, du khách không chỉ có thêm trải nghiệm mới mà còn hiểu hơn về một nét văn hóa được gìn giữ trong sinh hoạt của người dân.
Đồng bào dân tộc Mông từ các tỉnh đến tham dự Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV, chụp ảnh ghi lại khoảnh khắc trải nghiệm ruộng bậc thang Pu Nhi.
Chị Nguyễn Thị Thủy, du khách đến từ tỉnh Lào Cai cho biết, đây là lần đầu tiên chị đến bản Tù Lu – Tìa Ló. Trải nghiệm giã bánh giầy, vẽ sáp ong, dệt vải và ném pa pao giúp chị cảm nhận rõ hơn sự phong phú của văn hóa dân tộc Mông nơi đây. Chị mong muốn điểm du lịch cộng đồng này tiếp tục phát triển, được nhiều du khách trong và ngoài tỉnh biết đến.
Bên cạnh các hoạt động trải nghiệm, không gian giới thiệu nông sản, sản phẩm thủ công, trang phục và ẩm thực địa phương góp phần tạo nên điểm giao lưu giữa người dân với du khách. Các sản vật được bày biện gần gũi, phản ánh đời sống sản xuất của cộng đồng; những sản phẩm thủ công và món ăn truyền thống trở thành cầu nối đưa văn hóa bản địa đến gần hơn với khách tham quan.
Đồng bào Mông vùng cao Pu Nhi trình diễn thổi khèn bên những thửa ruộng bậc thang.
Được hình thành từ năm 1966 với 9 hộ dân ban đầu, bản Tù Lu - Tìa Ló hiện là nơi sinh sống của cộng đồng người Mông với những giá trị truyền thống được gìn giữ trong trang phục, phong tục, ẩm thực, nghề thủ công và trò chơi dân gian. Bản nằm dưới chân khu vực núi Phù Lồng, ở độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển, khí hậu mát mẻ, trong lành.
Ngày 2/9/2026, bản du lịch cộng đồng Tù Lu - Tìa Ló chính thức ra mắt, mở ra hướng phát triển du lịch cho địa phương. Đến nay, bản có 15 hộ đăng ký tham gia làm du lịch, trong đó 5 hộ bước đầu tổ chức dịch vụ lưu trú homestay và ăn uống phục vụ du khách. Đây là những bước đi ban đầu trong quá trình hình thành sản phẩm du lịch cộng đồng...
Đồng bào dân tộc Mông giới thiệu, cho thuê trang phục tại khu vực ruộng bậc thang Pu Nhi.
Ông Đinh Quang Bạo, Chủ tịch UBND xã Pu Nhi nêu rõ, địa phương sẽ tiếp tục quan tâm khai thác tiềm năng, lợi thế về cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa của đồng bào Mông, chú trọng xây dựng khu ruộng bậc thang Pu Nhi và Bản du lịch cộng đồng Tù Lu - Tìa Ló trở thành điểm đến hấp dẫn. Địa phương định hướng phát triển các hoạt động trải nghiệm văn hóa, nghề truyền thống, ẩm thực và dịch vụ lưu trú, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ du khách nhằm tạo thêm sinh kế cho người dân, gắn phát triển du lịch với gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống và cảnh quan bản làng.
Từ những thửa ruộng bậc thang mùa vàng ở Dê Chơ đến không gian trải nghiệm tại Tù Lu - Tìa Ló, sức hấp dẫn của Pu Nhi được tạo nên từ sự kết hợp giữa thiên nhiên và bản sắc cộng đồng. Việc phát huy những lợi thế ấy, gắn với bảo tồn văn hóa, gìn giữ cảnh quan và nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ là cơ sở để địa phương từng bước xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, đưa Pu Nhi đến gần hơn với du khách.
Du khách thích thú lưu lại những khoảnh khắc bên cánh đồng ruộng bậc thang Pu Nhi.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn