Khơi thông nội lực, thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia

Không chỉ tập trung vào tiến độ giải ngân nguồn vốn, các xã miền núi tỉnh Nghệ An đã tạo nên bước đột phá thông qua việc phát huy tối đa nội lực trong nhân dân. Bằng cách chuyển hóa nguồn lực tài chính từ các Chương trình mục tiêu quốc gia thành những mô hình sản xuất thực tiễn, chính quyền nơi đây đã khơi dậy ý chí tự lực của đồng bào, tạo tiền đề vững chắc cho mục tiêu giảm nghèo đa chiều và bền vững.

xa-nga-my-nghe-an-1.jpg
Từ nguồn lực Chương trình Mục tiêu quốc gia, bà con xã Nga My được hỗ trợ con giống và kỹ thuật chăn nuôi bò sinh sản.

Đánh thức nội lực từ những mô hình đặc thù

Xã Nga My từng được biết đến là một trong những địa bàn khó khăn nhất của tỉnh Nghệ An. Với địa hình bị chia cắt, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số, đặc biệt là nơi cư trú duy nhất của đồng bào Ơ Đu tại bản Văng Môn, áp lực về giảm nghèo luôn là bài toán đau đáu của các cấp chính quyền. Vì vậy, việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719) được cụ thể hóa bằng những giải pháp cụ thể.

Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy xã, Hội Nông dân đã thành lập các Tổ hội nghề nghiệp chăn nuôi bò sinh sản. Điểm khác biệt ở đây là sự giám sát chặt chẽ từ phía chính quyền: con giống được tuyển chọn kỹ, bà con được tập huấn quy trình làm chuồng trại và tiêm phòng dịch bệnh trước khi bàn giao. Đến nay, đàn bò không chỉ phát triển về số lượng mà còn thay đổi tư duy chăn nuôi của người Ơ Đu - từ thả rông sang chăn nuôi có quản lý, kế hoạch.

Ông Lo Văn Hải, người dân bản Văng Môn, xã Nga My chia sẻ, nhờ được thụ hưởng nhiều chính sách, chương trình và dự án đầu tư của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền, đời sống đồng bào Ơ Đu ngày càng phát triển. Bà con chăm lo phát triển kinh tế, đoàn kết xây dựng bản làng, đồng thời chú trọng gìn giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

Xác định sản xuất phải gắn liền với tiêu thụ, chính quyền xã Nga My đã khôi phục và phát triển Chợ phiên Nga My vào ngày 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Đây không chỉ là nơi mua bán mà là "sàn giao dịch" nông sản đúng nghĩa cho bà con các bản Bay, Pủng... Những sản phẩm thổ cẩm, đồ đan lát hay măng rừng nay đã có chỗ đứng, giúp người dân có thu nhập, tạo động lực sản xuất.

Ông Lô Thanh Nhất, Bí thư Đảng ủy xã Nga My cho biết, từ các nguồn lực của chương trình mục tiêu quốc gia, địa phương từng bước xây dựng mô hình chăn nuôi, trồng trọt phù hợp điều kiện vùng cao như, phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng các loại cây bản địa có giá trị kinh tế. Người dân được tham gia tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn bài bản, dần thay đổi phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún trước đây. Cùng với đó, xã quan tâm kết nối, giải quyết đầu ra cho sản phẩm, hướng tới hình thành sản xuất hàng hóa, tạo nguồn thu nhập ổn định, qua đó, từng bước thay đổi tư duy và cách tổ chức sản xuất của người dân.

Mô hình giảm nghèo bằng nghề đan bèo tây ở xã Yên Na đang là một sinh kế hiệu quả.

Mô hình giảm nghèo bằng nghề đan bèo tây ở xã Yên Na đang là một sinh kế hiệu quả.

Mô hình giảm nghèo bằng nghề đan bèo tây ở xã Yên Na đang phát huy hiệu quả nhờ phát huy nội lực (tay nghề truyền thống) kết hợp với hỗ trợ bên ngoài (kết nối doanh nghiệp, đào tạo), tạo sinh kế bền vững, giữ chân lao động trẻ, đặc biệt phù hợp với người cao tuổi làm tại nhà. Tranh thủ thời gian nông nhàn, người dân có thu nhập ổn định (3 - 5 triệu đồng/người/tháng) từ đan các sản phẩm xuất khẩu như, giỏ, thảm, bình hoa… Đến nay, người dân ở 16/16 bản của xã đều được đào tạo, biến nghề đan bèo tây thành sinh kế chủ lực, bền vững. Đây là minh chứng cho việc phát triển kinh tế xanh, tạo sinh kế tại chỗ, vừa nâng cao thu nhập vừa giữ gìn văn hóa bản địa, góp phần vào mục tiêu giảm nghèo bền vững của tỉnh Nghệ An.

Ông Thái Lương Thiện, Chủ tịch UBND xã Yên Na cho biết, nghề đan bèo tây không chỉ giải quyết vấn đề nghèo đói mà còn tạo ra hướng đi mới, bền vững, khai thác hiệu quả tiềm năng lao động và tài nguyên địa phương, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại vùng miền núi như Yên Na.

Từ “cho con cá” sang “trao cần câu”

xa-nga-my-nghe-an-3.jpg
Tại xã Quỳ Châu, việc đưa mô hình nuôi vịt bầu Quỳ vào chương trình giảm nghèo đã mang lại những kết quả rõ rệt, không chỉ về mặt kinh tế mà còn trong việc bảo tồn nguồn gen quý của địa phương.

Tại xã Quỳ Châu, việc đưa mô hình nuôi vịt bầu Quỳ vào chương trình giảm nghèo đã mang lại những kết quả rõ rệt, không chỉ về mặt kinh tế mà còn trong việc bảo tồn nguồn gen quý của địa phương.

Vịt bầu Quỳ vốn là đặc sản "trứ danh" của vùng đất Phủ Quỳ với chất lượng thịt thơm, ngọt, chắc và không có mùi hôi như các giống vịt thông thường. Trước đây, bà con thường nuôi nhỏ lẻ, chăn thả tự do, dẫn đến tình trạng dịch bệnh và "chảy máu" giống quý do lai tạp. Thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội, người dân đã áp dụng khoa học kỹ thuật để thực hiện quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, tiêm phòng đầy đủ và vệ sinh chuồng trại thường xuyên. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cám công nghiệp, bà con kết hợp phụ phẩm nông nghiệp như chuối cây băm nhỏ, cám ngô, cám gạo... Cách nuôi này giúp giảm chi phí đầu vào mà vẫn giữ được hương vị thịt đặc trưng của vịt bản địa.

Trong đợt triển khai cuối năm 2025 tại một số bản của xã Quỳ Châu, từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia, địa phương đã phối hợp cấp hơn 8.000 con giống cho 75 hộ nghèo và cận nghèo. Với tỷ lệ sống đạt trên 95%, mô hình này đang tạo ra luồng gió mới, giúp bà con vùng cao tự tin làm chủ kinh tế trên chính mảnh đất quê hương mình.

Mô hình trồng cây rễ hương bản địa cung cấp nguyên liệu cho người dân địa phương làm hương trầm truyền thống tại xã Quỳ Châu mang lại hiệu quả cao.

Mô hình trồng cây rễ hương bản địa cung cấp nguyên liệu cho người dân địa phương làm hương trầm truyền thống tại xã Quỳ Châu mang lại hiệu quả cao.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã Quỳ Châu cho biết, hiện nay, vịt bầu Quỳ đã trở thành sản phẩm OCOP và là món ăn không thể thiếu tại các điểm du lịch cộng đồng, nhà hàng ở miền Tây Nghệ An. Cung không đủ cầu là minh chứng rõ nhất cho hiệu quả bền vững của mô hình này. Ngoài ra, xã vận động nhân dân trồng rừng nguyên liệu và thâm canh cây rễ hương. Với phương châm "lấy ngắn nuôi dài", cây rễ hương tạo nguồn thu ngắn hạn để người dân yên tâm đầu tư cho những cánh rừng keo, rừng lát dài hạn.

Làm thế nào để người dân không tái nghèo, việc này, đòi hỏi chính quyền phải thay đổi phương thức tiếp cận từ "cho con cá" sang "trao cần câu" và "hướng dẫn cách câu", ông Dũng nhấn mạnh.

Mô hình trồng cây rễ hương bản địa cung cấp nguyên liệu cho người dân địa phương làm hương trầm truyền thống tại xã Quỳ Châu mang lại hiệu quả cao.

Mô hình trồng cây rễ hương bản địa cung cấp nguyên liệu cho người dân địa phương làm hương trầm truyền thống tại xã Quỳ Châu mang lại hiệu quả cao.

Thành công của các địa phương như Nga My, Yên Na và Quỳ Châu không phải ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một quy trình quản lý chặt chẽ ở hai cấp như rà soát đúng đối tượng, phân bổ vốn công khai, minh bạch và là cầu nối với các doanh nghiệp thu mua. Từ đó, trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, giám sát sử dụng vốn thông qua các ban giám sát cộng đồng tại bản để tránh lãng phí.

Qua thực tế triển khai, nhiều địa phương cho rằng, mô hình hỗ trợ phải phù hợp với tập quán và khí hậu của từng vùng, không áp dụng máy móc mô hình miền xuôi cho vùng cao. Điều quan trọng nhất, giúp người dân hiểu nỗ lực cá nhân mới là yếu tố quyết định, Nhà nước chỉ hỗ trợ nguồn lực ban đầu. Cùng với đó, phát huy vai trò người có uy tín, sử dụng tiếng nói của già làng, trưởng bản để vận động bà con tham gia hợp tác sản xuất.

Hành trình thoát nghèo dù còn gian nan nhưng sự chuyển dịch từ tư duy hỗ trợ sang tư duy đầu tư phát triển và liên kết chuỗi giá trị là con đường hiệu quả để miền Tây Nghệ An vươn mình mạnh mẽ./.

Dân tộc Ơ Đu

Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu.

Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách).

Dân số: 376 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Nay chỉ còn tiếng mẹ đẻ. Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày.

Lịch sử: Xưa kia người Ơ Ðu cư trú suốt một vùng dọc theo hai con sông Nặm Mộ và Nặm Nơn. Nhưng tập trung nhất vẫn là dọc sông Nặm Nơn. Do nhiều biến cố trong lịch sử liên tiếp xảy ra ở vùng này buộc họ phải rời đi nơi khác hay sống hoà lẫn với các cư dân mới đến. Hiện người Ơ Ðu ở hai bản đông nhất là Xốp Pột và Kim Hoà, xã Kim Ða huyện Tương Dương, Nghệ An. Ở Lào họ hợp với nhóm Tày Phoọng cư trú ở tỉnh Sầm Nưa.

Hoạt động sản xuất: Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4-5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9-10. Công cụ làm rẫy gồm rìu, dao, gậy chọc lỗ. Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ, hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Xưa họ còn biết dệt vải.

Ăn: Người Ơ Ðu thường ăn 1 bữa phụ (sáng), 2 bữa chính (trưa và tối). Trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.

Mặc: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.

: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến hơn cả là gùi dây đeo bên trán. Gùi rất đẹp, bền chắc.

Quan hệ xã hội: Do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ.

Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi tại góc nhà phía gian dành cho phụ nữ. Nhau trẻ bỏ vào ống tre đem chôn ngay dưới gầm sàn. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ làm lễ đặt tên.

Thờ cúng: Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà.

Lễ tết: Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản Xốp Pột, xã Kim Ða, Tương Dương, Nghệ An.

Văn nghệ: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.

Chơi: Người Ơ Ðu có vai trò chơi đánh khăng, chơi quay, ném còn, ô ăn quan.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ơ Đu

Có thể bạn quan tâm

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Trong hành trình phát triển của đất nước, Đảng bộ, chính quyền thành phố Cần Thơ đã thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng người dân tộc thiểu số (DTTS). Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ để làm rõ hơn về vấn đề này.