Kiên Giang: Bàn giải pháp khai thác tiềm năng lợi thế nghề nuôi biển

Nuôi cá lồng bè trên vùng biển An Thới, thành phố Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Lê Huy Hải – TTXVN
Nuôi cá lồng bè trên vùng biển An Thới, thành phố Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Lê Huy Hải – TTXVN

Sáng 28/4, tại phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tổ chức hội thảo “Phát triển nuôi biển bền vững tỉnh Kiên Giang”, với sự tham dự của đại diện lãnh đạo Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, các viện nghiên cứu chuyên ngành, trường Đại học, doanh nghiệp nuôi biển; lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, các sở, ngành và địa phương có liên quan và người nuôi biển trên địa bàn tỉnh.

Kiên Giang: Bàn giải pháp khai thác tiềm năng lợi thế nghề nuôi biển ảnh 1Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải – TTXVN

Tại hội thảo, nhiều tham luận của các nhà khoa học đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển nuôi biển bền vững tỉnh Kiên Giang; đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nuôi biển công nghiệp ở tỉnh Kiên Giang; nêu tổng quan thực hiện dự án nuôi biển công nghiệp tại tỉnh; công nghệ cho nuôi cá biển công nghiệp bền vững; hợp tác thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ nuôi biển; giới thiệu các thiết bị lồng bè nuôi biển công nghệ cao; ngư dân chia sẻ kinh nghiệm mô hình nuôi cá lồng bè đạt hiệu quả…

Tham luận của các nhà khoa học đều khẳng định, tỉnh Kiên Giang có tiềm năng, lợi thế, điều kiện môi trường biển để phát triển mạnh nuôi biển với đa dạng loại hình nuôi, đối tượng nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nuôi biển của tỉnh tập trung ở các huyện Kiên Hải, Kiên Lương, An Biên, An Minh, Hòn Đất và hai thành phố Hà Tiên, Phú Quốc.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang, tỉnh đề ra mục tiêu đến năm 2025, số lượng lồng nuôi biển đạt 7.500 lồng; trong đó, nuôi truyền thống 4.700 lồng và nuôi công nghệ cao 1.900 lồng, còn lại là nuôi thủy sản khác. Sản lượng nuôi biển 113.530 tấn; trong đó, nuôi lồng bè 29.870 tấn, nhuyễn thể 83.660 tấn và 260.000 viên ngọc trai.

Tiếp đó, đến năm 2030, số lượng lồng nuôi biển đạt 14.000 lồng; trong đó, nuôi truyền thống 5.300 lồng và nuôi công nghệ cao 6.600 lồng, còn lại là nuôi thủy sản khác. Sản lượng nuôi biển 207.190 tấn; trong đó nuôi lồng bè 105.720 tấn, nhuyễn thể 101.470 tấn và 520.000 viên ngọc trai.

Năm 2021, diện tích nuôi biển hơn 21.000 ha, sản lượng khoảng 69.300 tấn, so với nghề nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh, chiếm 7,5% về diện tích và 24,3% về sản lượng; trong đó, nuôi cá lồng bè trên biển 3.612 lồng, sản lượng gần 3.100 tấn; nuôi nhuyễn thể như sò huyết, sò lông, vẹm xanh, hến biển… diện tích hơn 20.200 ha, sản lượng 66.179 tấn.

Kiên Giang: Bàn giải pháp khai thác tiềm năng lợi thế nghề nuôi biển ảnh 2Nuôi cá lồng bè trên vùng biển An Thới, thành phố Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Lê Huy Hải – TTXVN

Ngoài ra, diện tích nuôi trai lấy ngọc ở Phú Quốc khoảng 200 ha, sản lượng thu hoạch từ vài chục nghìn đến vài trăm nghìn viên ngọc thành phẩm. Nghề nuôi ngọc trai này, ngoài việc đem lại hiệu quả kinh tế, còn góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng của du lịch Phú Quốc.

Dù vậy, nghề nuôi biển của Kiên Giang cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định như lồng bè nuôi cá hầu hết theo kiểu truyền thống làm bằng vật liệu gỗ, tiềm ẩn nhiều rủi ro, thức ăn cho cá biển nuôi chủ yếu là cá tạp, chưa chủ động được con giống nuôi về số lượng và kiểm soát chất lượng, chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ còn hạn chế, bị động về thị trường, giá cả. Nuôi nhuyễn thể ven bờ dễ bị ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường.

Nghề nuôi biển hiện nay của Kiên Giang thiếu cơ chế chính sách để thu hút đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp và người dân để mạnh dạn đầu tư ứng dụng các công nghệ nuôi xa bờ cho sản lượng hàng hóa lớn. Kiên Giang còn thiếu nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp, chế biến xuất khẩu cá thương phẩm và cơ sở sản xuất con giống tại chỗ có quy mô để phục vụ nghề nuôi biển phát triển.

PGS. TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam đề xuất định hướng phát triển nuôi biển bền vững ở Kiên Giang gồm: chuyển nghề cá nhân dân tự phát, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu… sang nghề cá thương mại bền vững, công nghệ cao, quy mô lớn với doanh nghiệp là chủ thể; di chuyển từ nuôi ven bờ ra khơi xa, nuôi biển đa loài tích hợp; áp dụng các vật liệu mới, bền vững, thân thiện với môi trường.

Ngoài ra, tích hợp nuôi biển với các ngành kinh tế biển khác như du lịch, dầu khí, nhựa, điện gió, vận tải biển. Tỉnh cần tăng cường quản lý nhà nước và có cơ chế chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nuôi biển cụ thể, rõ ràng; thực hiện cơ chế đồng quản lý với các hệ thống cảnh báo, kiểm soát ô nhiễm môi trường và cảnh báo, cảnh giới đảm bảo an ninh nuôi biển, PGS. TS Nguyễn Hữu Dũng kiến nghị.

Nhiều ý kiến của các đại biểu nêu chuỗi giá trị nuôi biển như nuôi giữ, bảo toàn, cải thiện chất lượng đàn bố mẹ; sản xuất, vận chuyển và cung ứng giống chất lượng cao; ương giống lớn trên bờ và ở biển; sản xuất và cung ứng thức ăn công nghiệp nuôi cá; sản xuất và cung ứng thiết bị, lồng bè nuôi biển; nuôi hải sản thương phẩm.

Đồng thời, kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ; thu hoạch, bảo quản và vận chuyển hải sản thương phẩm; sơ chế, chế biến các sản phẩm và phụ phẩm; cung ứng, xuất khẩu và phân phối sản phẩm hải sản nuôi; đào tạo nhân lực nuôi biển có tay nghề cao, chất lượng chuyên môn sâu.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Lê Quốc Anh cho biết, tỉnh ghi nhận tất cả những ý kiến đóng góp, chia sẻ chân thành của Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, viện nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học, doanh nghiệp và kinh nghiệm của bà con ngư dân làm nghề nuôi biển tại hội thảo này.

Qua đó, giúp cho tỉnh và các ngành chuyên môn hữu quan có thêm những giải pháp thật hữu ích để đưa nghề nuôi biển Kiên Giang phát triển ổn định, bền vững, tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có của tỉnh và khai thác ngành kinh tế này hiệu quả, góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung.

Tại hội thảo này, tỉnh Kiên Giang và Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam ký kết bản ghi nhớ hợp tác phát triển nuôi biển bền vững tỉnh Kiên Giang. Trung tâm Khuyến nông tỉnh ký kết với doanh nghiệp hợp tác cung cấp thiết bị lồng nhựa nuôi cá lồng bè trên biển.

Lê Huy Hải

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Bám cơ sở, phòng ngừa từ sớm, từ xa ở địa bàn biên giới

Bám cơ sở, phòng ngừa từ sớm, từ xa ở địa bàn biên giới

Thực hiện Kế hoạch số 116/KH-BCA, ngày 7/9/2026 của Văn phòng Bộ Công an về tổ chức kiểm tra đột xuất kết quả thực hiện các chỉ tiêu công tác Bộ Công an giao năm 2026, Đoàn kiểm tra của Bộ Công an đã có buổi làm việc với Công an phường Hà Tiên.

Thái Nguyên ưu tiên hạ tầng thiết yếu xã khó khăn, đặc biệt khó khăn

Thái Nguyên ưu tiên hạ tầng thiết yếu xã khó khăn, đặc biệt khó khăn

Thực hiện Đề án “Phát triển kết cấu hạ tầng các xã khó khăn và đặc biệt khó khăn tỉnh giai đoạn 2026-2030”, Thái Nguyên đang chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung triển khai chương trình hỗ trợ đầu tư, cải tạo, nâng cấp hạ tầng giao thông các xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn. Đồng thời, khẩn trương hoàn thiện công tác chuẩn bị đầu tư, các thủ tục về chủ trương đầu tư, báo cáo kinh tế - kỹ thuật; lựa chọn nhà thầu và các nội dung liên quan, bảo đảm đủ điều kiện khởi công các công trình theo kế hoạch và giải ngân 100% nguồn vốn được giao trong năm 2026.

Các xã miền núi phía Tây Quảng Trị khắc phục hậu quả mưa lũ

Các xã miền núi phía Tây Quảng Trị khắc phục hậu quả mưa lũ

Ngày 14/9, nước trên các sông tại Quảng Trị đang rút, chính quyền các xã miền núi phía Tây tỉnh Quảng Trị huy động lực lượng, phương tiện phối hợp với người dân khẩn trương dọn dẹp bùn đất, rác thải, vệ sinh môi trường, khắc phục hậu quả mưa lũ, sớm ổn định đời sống.

Đắk Lắk chủ động phòng bệnh ngay từ đầu năm học mới

Đắk Lắk chủ động phòng bệnh ngay từ đầu năm học mới

Bước vào năm học 2026-2027, trước nguy cơ các bệnh truyền nhiễm gia tăng do thời tiết giao mùa và học sinh tập trung đông, ngành Y tế và Giáo dục tỉnh Đắk Lắk đang tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch trong trường học, nhất là sốt xuất huyết, tay chân miệng và các bệnh lây truyền theo mùa.

Tuyên Quang tạo động lực tăng trưởng mới theo từng giai đoạn

Tuyên Quang tạo động lực tăng trưởng mới theo từng giai đoạn

Nhằm tạo chuyển biến về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị và sức cạnh tranh cũng như thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026, Tuyên Quang đặt mục tiêu đổi mới mô hình phát triển, tạo động lực tăng trưởng mới theo từng giai đoạn.

Quảng Trị sơ tán 653 hộ dân để ứng phó mưa lũ

Quảng Trị sơ tán 653 hộ dân để ứng phó mưa lũ

Trước diễn biến mưa lớn kéo dài, lũ trên các sông tiếp tục lên nhanh, tỉnh Quảng Trị đã tổ chức sơ tán 653 hộ dân với 2.468 người tại các khu vực có nguy cơ ngập lụt, chia cắt và sạt lở đất đến nơi an toàn.

Mang Tết Trung thu ấm áp đến trẻ em vùng biên Na Ngoi

Mang Tết Trung thu ấm áp đến trẻ em vùng biên Na Ngoi

Tối 12/9 tại Trường Liên cấp Na Ngoi, tỉnh Nghệ An, chương trình “Trăng thu biên cương” được tổ chức với nhiều hoạt động thiết thực, mang đến không khí Trung thu vui tươi, ấm áp cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại địa bàn biên giới.

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Từ tối 11 đến chiều 12/9, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra mưa vừa đến mưa to và có nơi có dông. Đặc biệt, ở khu vực biên giới của tỉnh, mưa lớn kéo dài nhiều giờ khiến mực nước trên các sông, suối dâng cao, một số tuyến đường bị ngập, gây ách tắc và chia cắt tạm thời một số nơi.