Lan tỏa những mô hình tương thân, tương ái cho phụ nữ nông thôn

Từ những tờ vé số gây quỹ, khoản góp vốn nhỏ hay mô hình “Sinh kế 1.000 đồng”, nhiều cách làm thiết thực của Hội Liên hiệp Phụ nữ ở cơ sở tại tỉnh Vĩnh Long đã trở thành điểm tựa giúp phụ nữ khó khăn có thêm nguồn vốn xoay vòng, phát triển sinh kế, ổn định cuộc sống. Không chỉ hỗ trợ vật chất, các mô hình còn lan tỏa tinh thần tương trợ trong cộng đồng, góp phần tạo động lực để nhiều gia đình vươn lên thoát nghèo bền vững.

ho-tro2-1626.jpg
Bà Võ Thị Hồng Dung, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Ngang trao tiền hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn từ nguồn bán vé số gây quỹ. Ảnh: TTXVN phát

Gieo mầm sinh kế từ cộng đồng

Xã Cầu Ngang hiện có hơn 2.500 hội viên phụ nữ, trong đó hội viên người Khmer chiếm khoảng 40%. Những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã triển khai nhiều mô hình hỗ trợ thiết thực; nổi bật là mô hình “Vé số yêu thương” mang tính nhân văn, góp phần gắn kết cộng đồng và lan tỏa tinh thần sẻ chia, thu hút đông đảo hội viên tham gia.

Bà Võ Thị Hồng Dung, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Ngang cho biết, mô hình được triển khai từ năm 2023. Hằng tuần, vào chiều thứ Tư, Hội tiếp nhận vé số từ đại lý rồi phân phát cho 16 chi hội trưởng các ấp để vận động hội viên và người dân trong xóm cùng tham gia mua ủng hộ.

Từ nguồn hoa hồng bán vé số, các chi hội giữ lại 30% để duy trì hoạt động, 70% còn lại đưa vào Quỹ Hỗ trợ phụ nữ và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. “Tuy số tiền không lớn nhưng qua từng đợt đã giúp nhiều phụ nữ khó khăn có thêm điều kiện vươn lên trong cuộc sống, nhất là chị em đồng bào Khmer”, bà Dung cho biết.

Đến nay, từ nguồn quỹ này, mô hình đã hỗ trợ 24 hội viên mua thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ 33 phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với mức 300.000 đồng/người. Tuy số tiền nhỏ, nhưng cũng góp phần giảm bớt khó khăn cho cuộc sống phụ nữ nghèo. Không chỉ dừng lại ở việc gây quỹ, mô hình còn tạo sự lan tỏa mạnh trong cộng đồng. Chị Thạch Thị Cha Na Li, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ ấp Mỹ Cẩm B chia sẻ, ấp có 131 hội viên, trong đó phụ nữ Khmer chiếm khoảng 70%. Mỗi đợt chị nhận khoảng 40 - 50 vé mang đi bán cho người dân trong xóm.

“Bà con thương chị em khó khăn nên ủng hộ rất nhiệt tình, có khi chỉ một giờ là bán hết vé. Từ nguồn quỹ này, nhiều hội viên khó khăn trong ấp được hỗ trợ gạo, mì gói, nhu yếu phẩm… hoặc tiền mặt để trang trải cuộc sống”, chị Cha Na Li nói.

Song song với mô hình vé số, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Ngang còn triển khai mô hình “Nuôi heo đất tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện”.

Hiện mô hình có 17 thành viên tham gia. Mỗi ngày, chị em dành dụm 10.000 đồng bỏ vào heo đất; đến cuối tháng sử dụng số tiền tiết kiệm này để đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện với mức khoảng 264.000 đồng/người/tháng (riêng người dân tộc Khmer đóng 231.000 đồng/tháng). Cách làm đơn giản nhưng phù hợp điều kiện của phụ nữ nông thôn, giúp nhiều người từng bước tham gia bảo hiểm xã hội, chủ động tích lũy cho tương lai và có thêm điểm tựa an sinh khi về già.

Tại xã Song Lộc, những mô hình tiết kiệm, góp vốn quy mô nhỏ đang trở thành nguồn lực hỗ trợ thiết thực cho phụ nữ phát triển kinh tế gia đình. Với hơn 5.500 hội viên, trong đó phụ nữ dân tộc Khmer chiếm hơn 50%, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã đã triển khai nhiều hình thức huy động nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Nổi bật là mô hình “Sinh kế 1.000 đồng” được triển khai từ năm 2024. Theo đó, mỗi hội viên tự nguyện đóng góp 1.000 đồng để tạo quỹ hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn phát triển sinh kế. Mỗi đợt vận động, Hội gây quỹ được khoảng 6 triệu đồng. Nguồn kinh phí này được sử dụng để hỗ trợ vốn cho 2 phụ nữ có nhu cầu buôn bán nhỏ, chăn nuôi hoặc phát triển kinh tế hộ gia đình; sau khi hoàn vốn sẽ tiếp tục luân chuyển cho các trường hợp khác.

Bên cạnh đó, mô hình góp vốn xoay vòng vẫn được duy trì nhiều năm qua. Hằng tháng, các hội viên đóng góp từ 100.000 - 200.000 đồng/người, sau mỗi vòng góp có thể tạo nguồn vốn từ 4 - 5 triệu đồng để hỗ trợ chị em đầu tư sản xuất, kinh doanh nhỏ.

Nguồn vốn tuy không lớn nhưng đã tạo động lực để nhiều phụ nữ mạnh dạn phát triển sinh kế. Chị Trần Thị Tuyết Dung, ấp Ô Chích B, là một trong những trường hợp được hưởng lợi từ mô hình. Trước đây gia đình thuộc diện cận nghèo, chị được hỗ trợ 3 triệu đồng để làm vốn sản xuất các loại bánh cung cấp cho các chợ địa phương. Từ nguồn vốn ban đầu này, việc làm ăn dần ổn định, mang lại thu nhập khoảng 300.000 đồng mỗi ngày. Nhờ đó, gia đình chị đã thoát diện cận nghèo và cải thiện đời sống.

Cùng đó, mô hình “Tiết kiệm làng xã” cũng phát huy hiệu quả khi khuyến khích hội viên gửi tiết kiệm với lãi suất 1%/tháng, tạo nguồn vốn cho phụ nữ vay giải quyết khó khăn đột xuất, trang trải chi phí học tập cho con hoặc bổ sung vốn sản xuất.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thoảng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Song Lộc, việc duy trì các mô hình tiết kiệm, góp vốn phù hợp với điều kiện thực tế đã giúp nhiều hội viên có thêm nguồn lực phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Đặc biệt, nhiều phụ nữ Khmer mạnh dạn đầu tư chăn nuôi, buôn bán nhỏ sau khi tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ. Hiệu quả từ các mô hình này cũng góp phần kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương. Giai đoạn 2021 - 2025, toàn xã có 331 hộ thoát nghèo và không có trường hợp tái nghèo.

Từ sinh kế đến mô hình kinh tế bền vững

Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Ngang trao tiền hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn từ nguồn bán vé số gây quỹ. Ảnh: TTXVN phát

Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Ngang trao tiền hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn từ nguồn bán vé số gây quỹ. Ảnh: TTXVN phát

Không chỉ triển khai các mô hình hỗ trợ sinh kế tại cơ sở, thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh còn thực hiện nhiều chương trình, hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, nhất là phụ nữ Khmer có hoàn cảnh khó khăn.

Từ đầu năm đến nay, các cấp Hội đã thực hiện 304 công trình, phần việc an sinh xã hội, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc và tham gia chuyển đổi số.

Các mô hình phù hợp điều kiện thực tế tiếp tục được duy trì và nhân rộng như “Biến rác thành tiền”, tổ góp vốn xoay vòng, tổ tiết kiệm tín dụng, “Tiết kiệm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế”… Những mô hình này không chỉ giúp tạo nguồn vốn nhỏ cho phụ nữ buôn bán, chăn nuôi mà còn hình thành thói quen tiết kiệm, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng.

Đáng chú ý, Chương trình tài chính vi mô “Hỗ trợ phụ nữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số” đang được triển khai với tổng nguồn vốn 17 tỷ đồng, tập trung hỗ trợ phụ nữ Khmer phát triển sinh kế, ổn định việc làm, nâng cao thu nhập.

Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh đang triển khai 8 chương trình tài chính vi mô tại 81/124 xã, phường, với 22.787 thành viên tham gia, tổng dư nợ khoảng 287,4 tỷ đồng.

Song song đó, các cấp Hội đã phát triển mới 42 mô hình kinh tế với 515 thành viên tham gia; duy trì 75 hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý với 1.571 thành viên nữ; tổ chức 24 lớp đào tạo nghề như đan đát, nấu ăn, trang điểm… cho 605 học viên, trong đó 518 người đã có việc làm ổn định sau đào tạo.

Bà Trịnh Thị Phương, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long cho biết, các mô hình hỗ trợ phụ nữ thời gian qua tuy giá trị vật chất không lớn nhưng phù hợp điều kiện thực tế ở nông thôn và có sức lan tỏa tích cực. Thông qua các hình thức góp vốn, tiết kiệm và gây quỹ, nhiều hội viên đã có thêm nguồn lực để phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.

Từ những cách làm gần gũi, thiết thực, các mô hình hỗ trợ phụ nữ ở cơ sở đang phát huy hiệu quả rõ nét trong công tác giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội tại nhiều địa phương. Qua đó, nhiều phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn đã có thêm điều kiện phát triển kinh tế gia đình, từng bước ổn định cuộc sống và vươn lên thoát nghèo bền vững./.

Thanh Hòa/TTXVN
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.