Diễn ra từ ngày 10 đến 12/10, Lễ hội Cốm Thuận Hòa có nhiều gian hàng trưng bày, giới thiệu các món ăn, bánh được chế biến từ cốm cùng những sản vật, đặc sản của địa phương. Đến với lễ hội, du khách không chỉ được tham quan, tìm hiểu nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày mà còn hòa mình vào không khí sôi nổi của hội thi làm cốm, trực tiếp chứng kiến đôi bàn tay khéo léo của người dân qua từng công đoạn chế biến.
Đặc biệt, du khách còn được thưởng thức những mẻ cốm xanh non, thơm dẻo vừa ra lò, cảm nhận trọn vẹn hương vị lúa mới và sự mộc mạc, đậm đà bản sắc văn hóa vùng cao.
Trong sắc màu rực rỡ của những bộ trang phục truyền thống dân tộc Tày, người dân Thuận Hòa, từ các chàng trai khỏe mạnh đến những cô gái khéo léo cùng nhau tham gia hội thi làm cốm. Không khí lễ hội trở nên rộn ràng bởi tiếng nói cười, tiếng chày giã cốm nhịp nhàng vang lên giữa không gian núi rừng. Những đôi tay thoăn thoắt đưa chày, đảo thóc, sàng cốm, tạo nên nhịp điệu lao động quen thuộc đã gắn bó với bao thế hệ người dân nơi đây.
Từ những bông lúa nếp còn non được lựa chọn kỹ lưỡng, trải qua các công đoạn sấy, giã và sàng lọc, những mẻ cốm xanh non dần thành hình. Hương lúa mới quyện trong làn khói bếp, lan tỏa khắp không gian lễ hội, mang đến cảm giác gần gũi, thân thuộc của mùa thu vùng cao. Mỗi mẻ cốm không chỉ kết tinh từ hạt lúa quê hương mà còn chứa đựng kinh nghiệm, sự cần cù và nét văn hóa ẩm thực đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.
Ông Triệu Quốc Đạt, Chủ tịch UBND xã Thuận Hòa cho biết, lễ hội là hoạt động có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày. Thông qua lễ hội, địa phương mong muốn quảng bá sản phẩm cốm Thuận Hòa đến đông đảo du khách, khuyến khích người dân duy trì nghề truyền thống, từng bước gắn sản xuất nông nghiệp với phát triển du lịch, nâng cao thu nhập cho người dân.
Đối với người dân địa phương, lễ hội là dịp giao lưu, học hỏi kinh nghiệm làm cốm và là cơ hội để cùng nhau gìn giữ nghề truyền thống của cha ông. Bà Nông Thị Ninh, người dân xã Thuận Hòa chia sẻ: "Chúng tôi rất vui khi được tham gia lễ hội, cùng bà con trình diễn các công đoạn làm cốm truyền thống. Nghề này đã được truyền lại qua nhiều thế hệ nên ai cũng mong muốn giữ gìn để con cháu sau này biết và tiếp tục làm. Được giới thiệu những mẻ cốm thơm ngon của quê hương đến du khách, chúng tôi rất phấn khởi".
Không chỉ có người dân địa phương, lễ hội còn mang đến cho du khách cơ hội trực tiếp tìm hiểu quy trình làm cốm, thưởng thức hương vị cốm mới và khám phá đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Tày.
Chị Lê Mỹ Linh, du khách đến từ Thành phố Hồ Chí Minh hồ hởi: "Đây là trải nghiệm rất thú vị đối với tôi. Được tận mắt chứng kiến người dân làm cốm thủ công, nghe tiếng chày giã cốm và thưởng thức những hạt cốm thơm, dẻo ngay tại lễ hội giúp tôi hiểu hơn về văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày. Tôi nghĩ đây cũng là nét đặc sắc có thể thu hút thêm nhiều du khách đến với Thuận Hòa".
Thông qua Lễ hội Cốm, xã Thuận Hòa hướng tới phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với đời sống sản xuất của người dân, từng bước xây dựng cốm trở thành sản phẩm đặc trưng phục vụ du lịch. Qua đó, góp phần quảng bá hình ảnh quê hương, tạo thêm sinh kế cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn