Đặc sắc Lễ hội Cốm Co Giàng

Trong 2 ngày 9-10/10, người dân và du khách được trải nghiệm không gian văn hóa dân tộc Thái tại xã Pắc Ta (tỉnh Lai Châu) trong “Lễ hội Cốm Co Giàng” lần thứ I. Đây cũng là dịp để địa phương quảng bá sản vật, cảnh quan và tiềm năng du lịch.

Một mẻ lúa Co Giàng rang xong chuẩn bị cho vào cối để giã.

Một mẻ lúa Co Giàng rang xong chuẩn bị cho vào cối để giã.

Lai Châu là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa; nơi hội tụ đặc sắc, bản sắc của 20 dân tộc anh em. Những giá trị văn hóa được hình thành, gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ chính là nguồn lực tinh thần quý báu góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng của các địa phương.

Tại xã Pắc Ta, Lễ hội Cốm Co Giàng chứa đựng những giá trị văn hóa, phong tục, tập quán; tình cảm gắn bó của đồng bào với ruộng đồng, bản làng. Trong hương cốm mới có niềm vui của mùa vụ, có sự trân trọng đối với thành quả lao động và khát vọng về cuộc sống ngày càng no ấm, đủ đầy.

Các đội thi đun lửa rang lúa.

Các đội thi đun lửa rang lúa.

Lễ hội gồm các hoạt động tái hiện nghi lễ truyền thống, hội thi giã cốm, trải nghiệm làm cốm, giới thiệu ẩm thực, giao lưu văn nghệ, vòng xòe cộng đồng, thi đấu thể thao và Giải chạy ruộng bậc thang “Chinh phục dãy Hoàng Liên”. Các chương trình được tổ chức trong 2 ngày, tạo điều kiện để người dân, du khách tìm hiểu phong tục tập quán, đời sống văn hóa và các sản phẩm đặc trưng của Pắc Ta.

Du khách có cơ hội tìm hiểu nghi lễ Cưn Lảu Khẩu Mảu, nghi lễ lâu đời được lưu truyền qua nhiều thế hệ trong đời sống cộng đồng. Những nghi thức truyền thống phản ánh đời sống tinh thần phong phú, thể hiện sự gắn bó của người dân với phong tục, tập quán và những giá trị văn hóa được gìn giữ qua thời gian.

Nghi lễ Cưn Lảu Khẩu Mảu (Mường cốm mới).

Nghi lễ Cưn Lảu Khẩu Mảu (Mường cốm mới).

Cùng với đó, tục buộc chỉ cổ tay mang ý nghĩa cầu chúc sức khỏe, bình an, may mắn, ấm no và hạnh phúc là nét văn hóa giàu tính cộng đồng. Thông qua hoạt động này, người dân và du khách có dịp cảm nhận những mong ước tốt đẹp, tình cảm chân thành được gửi gắm trong đời sống thường ngày của đồng bào.

Hội thi giã cốm và hoạt động trải nghiệm làm cốm là nội dung gắn với tên gọi của lễ hội. Thông qua các hoạt động này, địa phương giới thiệu quy trình chế biến cốm truyền thống, kinh nghiệm sản xuất và nét văn hóa ẩm thực của người dân. Các chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ góp phần tạo điều kiện để cộng đồng các dân tộc gặp gỡ, trao đổi và giới thiệu những giá trị văn hóa được gìn giữ tại địa phương.

Các đội thi bắt đầu rang lúa.

Các đội thi bắt đầu rang lúa.

Chị Lường Thị Tơm ở bản Pắc Ta (xã Pắc Ta) cho biết, hiện nay, mỗi năm gia đình chị làm hơn 2 tấn cốm Co Giàng thành phẩm. Nghề làm cốm mang lại nguồn thu nhập ổn định cho bà con. Đồng bào đã biến nét văn hóa của người Thái thành sản phẩm kinh tế. Nếu xây dựng được thương hiệu cốm Co Giàng thì vừa thu hút được du khách khi đến xem người dân làm cốm, vừa tạo ra nguồn thu nhập cho bà con.

Bí thư Chi bộ bản Pắc Ta Đào Hồng Vân chia sẻ, ngày xưa bà con làm cốm để sử dụng trong hộ gia đình. Thiên nhiên ban tặng cho bản giống lúa Co Giàng rất thơm ngon và thích hợp cho làm cốm. Dần dần, một số bà con bán ra ngoài thấy được lợi nhuận cao, có thêm thu nhập. Hiện nay, toàn bản có 45 hộ tham gia sản xuất cốm, với sản lượng bình quân mỗi hộ đạt từ 500 kg đến 3 tấn/năm. Xã và bản đang định hướng xây dựng bản làm nghề truyền thống cốm Co Giàng.

Cốm Co Giàng được gói trong lá dong hoặc lá sen.

Cốm Co Giàng được gói trong lá dong hoặc lá sen.

Trong khuôn khổ lễ hội, không gian văn hóa các dân tộc giới thiệu các nét đặc trưng trong sinh hoạt, sản xuất và đời sống văn hóa của người dân Pắc Ta. Đây cũng là địa điểm trưng bày, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng, phục vụ nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm của người dân và du khách.

Các sản vật được giới thiệu tại lễ hội gồm: cốm Co Giàng, gạo Séng Cù, mật ong Hố Mít, thảo quả… và những món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc Thái. Đây là những sản phẩm gắn với điều kiện tự nhiên, hoạt động sản xuất và tập quán sinh hoạt của người dân địa phương.

Phụ nữ Thái khéo tay đan những bông lúa để trang trí cho cốm Co Giàng.

Phụ nữ Thái khéo tay đan những bông lúa để trang trí cho cốm Co Giàng.

Việc giới thiệu sản vật trong khuôn khổ sự kiện góp phần quảng bá sản phẩm nông nghiệp, đặc sản địa phương, tạo cơ hội kết nối tiêu thụ và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường. Qua đó, Pắc Ta hướng tới phát huy lợi thế về sản xuất nông nghiệp, ẩm thực và văn hóa bản địa, gắn bảo tồn các giá trị truyền thống với phát triển kinh tế.

Bên cạnh các hoạt động tại khu vực tổ chức lễ hội, du khách có thể tìm hiểu một số điểm đến của địa phương như khu vực nước khoáng nóng Nà Ún, núi Sư Tử, bản Thào, ruộng bậc thang Hố Mít và cung đường hướng về dãy Nam Kang Ho Tao. Những địa điểm này có tiềm năng phát triển các hoạt động tham quan, trải nghiệm cảnh quan và tìm hiểu đời sống cộng đồng.

Cánh đồng Pắc Ta, nơi có loại lúa Co Giàng thơm ngon để làm cốm.

Cánh đồng Pắc Ta, nơi có loại lúa Co Giàng thơm ngon để làm cốm.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu Tống Thanh Hải khẳng định, Lễ hội không chỉ là tôn vinh hạt cốm, quảng bá sản vật đặc trưng địa phương mà còn là cơ hội để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân đối với quê hương. Đồng thời, từng bước biến các giá trị văn hóa thành nguồn lực nội sinh gắn bảo tồn bản sắc với phát triển du lịch; nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, tạo sinh kế, cải thiện đời sống nhân dân.

Thông qua lễ hội, xã Pắc Ta có thêm cơ hội giới thiệu sản vật đặc trưng, khai thác lợi thế cảnh quan và từng bước phát triển các hoạt động du lịch gắn với văn hóa cộng đồng. Từ hương cốm truyền thống đến những điệu xòe đoàn kết, từ sản vật địa phương đến vẻ đẹp ruộng bậc thang, tất cả tạo nên lời mời gọi du khách đến khám phá một Pắc Ta giàu bản sắc, thân thiện và giàu tiềm năng giữa núi rừng Tây Bắc./.

Tin, ảnh: Nguyễn Oanh/TTXVN
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Những đường thêu rực rỡ trên trang phục truyền thống, nét vẽ sáp ong trên vải lanh, tiếng búa rèn, nhịp giã bánh dày cùng các trò chơi dân gian tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 ở Điện Biên. Qua các hoạt động trưng bày, trình diễn và trải nghiệm, những giá trị truyền thống được tái hiện sinh động, góp phần lan tỏa bản sắc văn hóa và gợi mở hướng bảo tồn gắn với phát triển, nâng cao đời sống đồng bào.

Phát huy giá trị di sản lễ hội Katê

Phát huy giá trị di sản lễ hội Katê

Chỉ còn hai ngày nữa (ngày 10/10), đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn ở tỉnh Khánh Hòa sẽ cùng đón lễ hội Katê - lễ hội truyền thống lớn nhất trong năm.

Ấm áp không khí lễ Sene Dolta 2026

Ấm áp không khí lễ Sene Dolta 2026

Ngày 7/10, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, lãnh đạo Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ và đại diện các sở, ban, ngành đã tổ chức 8 đoàn đến thăm, chúc mừng các hòa thượng, sư sãi, tăng ni, phật tử và các gia đình Khmer có công tiêu biểu nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026. 

Cô gái Dao Đỏ tốt nghiệp xuất sắc, khát vọng trở về quê gieo chữ

Cô gái Dao Đỏ tốt nghiệp xuất sắc, khát vọng trở về quê gieo chữ

Sinh ra trong một gia đình còn nhiều khó khăn ở xã Mỏ Vàng (Lào Cai), cô gái Dao Đỏ Đặng Thị Thương đã nỗ lực học tập, tốt nghiệp ngành Sư phạm Lịch sử với thành tích xuất sắc và ấp ủ ước trở về quê làm giáo viên, góp phần gìn giữ, phát huy văn hóa dân tộc.

Khám phá làng du lịch xanh mát của người Tày Thái Hải

Khám phá làng du lịch xanh mát của người Tày Thái Hải

Rời nhịp đô thị vội vã, du khách đến Thái Hải để đi bộ dưới tán cây, nghỉ trong nhà sàn cổ, nghe hát Then và dùng bữa cơm cùng người Tày. Không cần lịch trình dày đặc, chuyến đi nhẹ nhàng mở ra bằng sự yên bình, gần gũi và nhịp sống cộng đồng bền vững giữa núi đồi.

Bạn bè quốc tế trải nghiệm văn hóa Việt

Bạn bè quốc tế trải nghiệm văn hóa Việt

Trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai năm 2026, ngày 2/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phối hợp với Ban Tổ chức Lễ hội tổ chức chương trình đón tiếp đoàn đại biểu quốc tế tham quan, trải nghiệm tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội).

Du khách quốc tế trải nghiệm sắc màu văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Du khách quốc tế trải nghiệm sắc màu văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Với thông điệp tôn vinh sự đa dạng văn hóa và tăng cường kết nối giữa các cộng đồng, chương trình tham quan, trải nghiệm tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam là một hoạt động thiết thực trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phối hợp với Ban Tổ chức chương trình tổ chức.

Tết Khẩu Hó mừng lúa mới vùng biên

Tết Khẩu Hó mừng lúa mới vùng biên

Khi những thửa ruộng bước vào mùa lúa chín, đồng bào dân tộc Lào ở xã biên giới Mường Nhà, tỉnh Điện Biên lại đón Tết Khẩu Hó – Tết mừng lúa mới. 

Lễ cầu an của người Ba Na gửi gắm ước vọng bình yên, no đủ

Lễ cầu an của người Ba Na gửi gắm ước vọng bình yên, no đủ

Lễ cầu an của đồng bào Ba Na ở Tây Nguyên là nghi lễ truyền thống, gửi gắm mong ước về sức khỏe, bình yên, mùa màng bội thu. Được gìn giữ qua nhiều thế hệ, lễ hội còn là dịp gắn kết cộng đồng, trao truyền phong tục, cồng chiêng, điệu xoang và giá trị văn hóa đặc sắc.

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Lễ hội “Ăn mừng lúa mới” của đồng bào Giẻ Triêng tại xã Phước Chánh được tái hiện trang trọng, thể hiện lòng biết ơn Giàng và các vị thần linh. Đây còn là dịp cộng đồng sum họp, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống.

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Mang trong mình âm vang của cồng chiêng và tiếng đàn môi trầm bổng, những người có uy tín ở các xã miền núi Quảng Ngãi đang từng ngày lặng lẽ “giữ hồn” văn hóa Hre. Họ chính là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại, đưa âm nhạc truyền thống sống mãi giữa đại ngàn.

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Lư Thị Súng, bác sĩ người Mông (Tuyên Quang), lớn lên trong gia đình cận nghèo, từng vượt nhiều chặng đường đèo, những trở ngại về quan niệm, hủ tục... để đến trường, nỗ lực học tập trở thành bác sĩ. Sau nhiều năm học tập xa quê, chị trở về Mèo Vạc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, góp phần vào những đổi thay trong diện mạo của quê hương.