Một mẻ lúa Co Giàng rang xong chuẩn bị cho vào cối để giã.
Lai Châu là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa; nơi hội tụ đặc sắc, bản sắc của 20 dân tộc anh em. Những giá trị văn hóa được hình thành, gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ chính là nguồn lực tinh thần quý báu góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng của các địa phương.
Tại xã Pắc Ta, Lễ hội Cốm Co Giàng chứa đựng những giá trị văn hóa, phong tục, tập quán; tình cảm gắn bó của đồng bào với ruộng đồng, bản làng. Trong hương cốm mới có niềm vui của mùa vụ, có sự trân trọng đối với thành quả lao động và khát vọng về cuộc sống ngày càng no ấm, đủ đầy.
Các đội thi đun lửa rang lúa.
Lễ hội gồm các hoạt động tái hiện nghi lễ truyền thống, hội thi giã cốm, trải nghiệm làm cốm, giới thiệu ẩm thực, giao lưu văn nghệ, vòng xòe cộng đồng, thi đấu thể thao và Giải chạy ruộng bậc thang “Chinh phục dãy Hoàng Liên”. Các chương trình được tổ chức trong 2 ngày, tạo điều kiện để người dân, du khách tìm hiểu phong tục tập quán, đời sống văn hóa và các sản phẩm đặc trưng của Pắc Ta.
Du khách có cơ hội tìm hiểu nghi lễ Cưn Lảu Khẩu Mảu, nghi lễ lâu đời được lưu truyền qua nhiều thế hệ trong đời sống cộng đồng. Những nghi thức truyền thống phản ánh đời sống tinh thần phong phú, thể hiện sự gắn bó của người dân với phong tục, tập quán và những giá trị văn hóa được gìn giữ qua thời gian.
Nghi lễ Cưn Lảu Khẩu Mảu (Mường cốm mới).
Cùng với đó, tục buộc chỉ cổ tay mang ý nghĩa cầu chúc sức khỏe, bình an, may mắn, ấm no và hạnh phúc là nét văn hóa giàu tính cộng đồng. Thông qua hoạt động này, người dân và du khách có dịp cảm nhận những mong ước tốt đẹp, tình cảm chân thành được gửi gắm trong đời sống thường ngày của đồng bào.
Hội thi giã cốm và hoạt động trải nghiệm làm cốm là nội dung gắn với tên gọi của lễ hội. Thông qua các hoạt động này, địa phương giới thiệu quy trình chế biến cốm truyền thống, kinh nghiệm sản xuất và nét văn hóa ẩm thực của người dân. Các chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ góp phần tạo điều kiện để cộng đồng các dân tộc gặp gỡ, trao đổi và giới thiệu những giá trị văn hóa được gìn giữ tại địa phương.
Các đội thi bắt đầu rang lúa.
Chị Lường Thị Tơm ở bản Pắc Ta (xã Pắc Ta) cho biết, hiện nay, mỗi năm gia đình chị làm hơn 2 tấn cốm Co Giàng thành phẩm. Nghề làm cốm mang lại nguồn thu nhập ổn định cho bà con. Đồng bào đã biến nét văn hóa của người Thái thành sản phẩm kinh tế. Nếu xây dựng được thương hiệu cốm Co Giàng thì vừa thu hút được du khách khi đến xem người dân làm cốm, vừa tạo ra nguồn thu nhập cho bà con.
Bí thư Chi bộ bản Pắc Ta Đào Hồng Vân chia sẻ, ngày xưa bà con làm cốm để sử dụng trong hộ gia đình. Thiên nhiên ban tặng cho bản giống lúa Co Giàng rất thơm ngon và thích hợp cho làm cốm. Dần dần, một số bà con bán ra ngoài thấy được lợi nhuận cao, có thêm thu nhập. Hiện nay, toàn bản có 45 hộ tham gia sản xuất cốm, với sản lượng bình quân mỗi hộ đạt từ 500 kg đến 3 tấn/năm. Xã và bản đang định hướng xây dựng bản làm nghề truyền thống cốm Co Giàng.
Cốm Co Giàng được gói trong lá dong hoặc lá sen.
Trong khuôn khổ lễ hội, không gian văn hóa các dân tộc giới thiệu các nét đặc trưng trong sinh hoạt, sản xuất và đời sống văn hóa của người dân Pắc Ta. Đây cũng là địa điểm trưng bày, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng, phục vụ nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm của người dân và du khách.
Các sản vật được giới thiệu tại lễ hội gồm: cốm Co Giàng, gạo Séng Cù, mật ong Hố Mít, thảo quả… và những món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc Thái. Đây là những sản phẩm gắn với điều kiện tự nhiên, hoạt động sản xuất và tập quán sinh hoạt của người dân địa phương.
Phụ nữ Thái khéo tay đan những bông lúa để trang trí cho cốm Co Giàng.
Việc giới thiệu sản vật trong khuôn khổ sự kiện góp phần quảng bá sản phẩm nông nghiệp, đặc sản địa phương, tạo cơ hội kết nối tiêu thụ và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường. Qua đó, Pắc Ta hướng tới phát huy lợi thế về sản xuất nông nghiệp, ẩm thực và văn hóa bản địa, gắn bảo tồn các giá trị truyền thống với phát triển kinh tế.
Bên cạnh các hoạt động tại khu vực tổ chức lễ hội, du khách có thể tìm hiểu một số điểm đến của địa phương như khu vực nước khoáng nóng Nà Ún, núi Sư Tử, bản Thào, ruộng bậc thang Hố Mít và cung đường hướng về dãy Nam Kang Ho Tao. Những địa điểm này có tiềm năng phát triển các hoạt động tham quan, trải nghiệm cảnh quan và tìm hiểu đời sống cộng đồng.
Cánh đồng Pắc Ta, nơi có loại lúa Co Giàng thơm ngon để làm cốm.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu Tống Thanh Hải khẳng định, Lễ hội không chỉ là tôn vinh hạt cốm, quảng bá sản vật đặc trưng địa phương mà còn là cơ hội để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân đối với quê hương. Đồng thời, từng bước biến các giá trị văn hóa thành nguồn lực nội sinh gắn bảo tồn bản sắc với phát triển du lịch; nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, tạo sinh kế, cải thiện đời sống nhân dân.
Thông qua lễ hội, xã Pắc Ta có thêm cơ hội giới thiệu sản vật đặc trưng, khai thác lợi thế cảnh quan và từng bước phát triển các hoạt động du lịch gắn với văn hóa cộng đồng. Từ hương cốm truyền thống đến những điệu xòe đoàn kết, từ sản vật địa phương đến vẻ đẹp ruộng bậc thang, tất cả tạo nên lời mời gọi du khách đến khám phá một Pắc Ta giàu bản sắc, thân thiện và giàu tiềm năng giữa núi rừng Tây Bắc./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn