Những ngày giữa tháng 8, theo cung đường uốn lượn lên vùng cao Đông Khánh Sơn, du khách đi qua những triền núi xanh, những vườn cây đang mùa trĩu quả. Trong tiết trời dịu mát, mây bảng lảng ngang sườn núi, hương sầu riêng chín quyện cùng tiếng mã la, đàn Chapi tạo nên một không gian đặc trưng của vùng đồng bào Raglai. Từ lợi thế cảnh quan, nông sản và văn hóa bản địa, Đông Khánh Sơn đang từng bước tạo thêm sản phẩm trải nghiệm, kết nối nông nghiệp với văn hóa, du lịch.
Bốn mùa “ trái ngọt”
Rời vùng đồng bằng, càng lên cao, cảnh quan Đông Khánh Sơn càng mở rộng với những lớp núi nối tiếp nhau, thung lũng và vườn cây xanh ngát. Những ngày thời tiết thuận lợi, mây xuống thấp, phủ quanh các triền núi, tạo nên cảnh sắc hấp dẫn đối với du khách thích khám phá, săn mây và trải nghiệm thiên nhiên.
Tháng 8 cũng là thời điểm nhiều loại trái cây đặc sản của vùng Khánh Sơn bước vào chính vụ. Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi da xanh, chuối, mít theo chân người dân từ vườn đến các điểm giới thiệu, tiêu thụ. Những vườn cây trĩu quả giữa núi rừng đang trở thành một phần của trải nghiệm khi du khách đến vùng cao phía tây tỉnh Khánh Hòa.
Riêng xã Đông Khánh Sơn hiện có 577 ha sầu riêng; trong đó 343 ha đang cho quả, năng suất bình quân khoảng 11 tấn/ha. Cùng với xã Khánh Sơn và Tây Khánh Sơn, nơi đây hình thành vùng sản xuất sầu riêng tập trung của khu vực miền núi Khánh Hòa. Vùng Khánh Sơn trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, quy mô sản xuất cây ăn quả đã tạo nền tảng đáng kể để phát triển các sản phẩm trải nghiệm gắn với nông nghiệp. Toàn vùng có khoảng 3.640 ha cây ăn quả, sản lượng năm 2024 hơn 22.000 tấn. Trong đó, sầu riêng khoảng 2.600 ha, chiếm hơn 70% diện tích cây ăn quả; khoảng 1.700 ha cho thu hoạch, sản lượng hơn 17.000 tấn, giá trị hơn 1.000 tỷ đồng.
Qua đó, có thể thấy trái cây là sản phẩm nông nghiệp chủ lực đồng thời đang mở thêm dư địa để vùng cao phát triển du lịch theo mùa. Du khách có thể ngắm cảnh, tìm hiểu vùng trồng, thưởng thức trái cây, mua sản phẩm trực tiếp của người dân và tiếp tục hành trình khám phá văn hóa Raglai.
Dịp này, “Không gian Văn hóa - Chợ phiên Đông Khánh Sơn” lần đầu được địa phương tổ chức sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trở thành điểm dừng chân của người dân và du khách trong hai ngày 14 và 15/8.
Với chủ đề “Mùa trái ngọt Đông Khánh Sơn”, không gian phiên chợ được bố trí 10 gian hàng giới thiệu nông sản, sản phẩm OCOP, đặc sản, ẩm thực và sản phẩm thủ công truyền thống. Xen giữa các gian hàng là hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian, trình diễn nghề truyền thống và giao lưu cộng đồng.
Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi da xanh, chuối, mít được đặt cạnh cơm lam, bánh dân gian và sản phẩm thủ công. Nông sản được người dân đưa trực tiếp từ vườn đến phiên chợ, có thông tin về hộ sản xuất, vùng trồng, mùa vụ và giá bán. Mô hình vì thế vừa tạo thêm kênh tiêu thụ, vừa giúp du khách hiểu hơn câu chuyện phía sau mỗi sản vật của vùng cao.
Khi nắng chiều dần khuất sau những dãy núi, phiên chợ chuyển sang một sắc màu khác. Tiếng mã la vang lên giữa không gian vùng cao, hòa cùng những làn điệu dân ca, dân vũ và tiếng nhạc cụ truyền thống.
Bản sắc Raglai trong không gian du lịch
Du khách không đứng ngoài quan sát mà có thể trực tiếp tham gia các hoạt động cộng đồng, thử đi cà kheo, giã gạo, xem đan gùi, tìm hiểu nhạc cụ dân tộc, thưởng thức món ăn truyền thống.
Mã la giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào Raglai, gắn với sinh hoạt cộng đồng, nghi lễ và lễ hội. Cùng với đàn Chapi, đàn đá, dân ca, dân vũ, nghề đan lát, những thanh âm và kỹ năng truyền thống ấy tạo nên nét nhận diện riêng của vùng đất.
Tại thôn Tà Nĩa, nghệ nhân Mấu Xuân Điệp là một trong những người còn gắn bó với đàn Chapi. Với người Raglai, cây đàn làm từ những vật liệu gần gũi của núi rừng không chỉ là nhạc cụ giải trí. Tiếng đàn chứa đựng tình cảm, câu chuyện đời sống và ký ức cộng đồng.
Những nghệ nhân như Mấu Xuân Điệp đang góp phần truyền lại cách chơi nhạc cụ và tình yêu văn hóa truyền thống cho lớp trẻ. Khi Chapi, mã la được đưa vào không gian phiên chợ, giá trị ấy được giới thiệu bằng một cách gần gũi hơn: người dân trực tiếp trình diễn, kể câu chuyện văn hóa của cộng đồng mình; du khách nghe, xem và giao lưu ngay trong không gian bản địa.
Theo bà Nguyễn Thị Nguyệt, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Đông Khánh Sơn, thời điểm tổ chức phiên chợ cũng là một trong những mùa đẹp của vùng cao, khi mùa săn mây gặp mùa trái cây chính vụ. Du khách đến Đông Khánh Sơn vừa có thể thưởng thức nông sản đặc trưng, vừa tìm hiểu văn hóa truyền thống của đồng bào Raglai.
Địa phương kỳ vọng mô hình tạo thêm điểm giao lưu, trải nghiệm, quy tụ sản phẩm OCOP, nông sản, hàng thủ công, văn nghệ, trò chơi dân gian và ẩm thực. Quan trọng hơn, người dân được xác định là chủ thể của hoạt động du lịch.
Nhà vườn trực tiếp giới thiệu trái cây. Phụ nữ địa phương chế biến cơm lam, bánh và món ăn truyền thống. Nghệ nhân giới thiệu mã la, Chapi, đàn đá; người biết nghề trình diễn đan lát. Những sản phẩm tưởng như quen thuộc trong đời sống thường ngày của đồng bào, khi được tổ chức thành trải nghiệm, lại trở thành chất liệu hấp dẫn đối với du khách.
Theo bà Bo Bo Thị Yến, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đông Khánh Sơn, phiên chợ không đơn thuần là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa. Địa phương mong muốn tạo một không gian để người dân gặp gỡ, giao lưu; sản phẩm do chính bà con làm ra được nhiều người biết đến; những món ăn truyền thống, trang phục, tiếng nhạc, điệu múa, trò chơi dân gian và nét đẹp văn hóa Raglai tiếp tục được gìn giữ, trao truyền cho thế hệ trẻ.
Định hướng xa hơn là từng bước gắn văn hóa với phát triển kinh tế, sản phẩm địa phương với hoạt động du lịch; qua đó mở rộng cơ hội quảng bá sản phẩm OCOP, nông sản chủ lực, đặc sản và ẩm thực Đông Khánh Sơn. “Không gian Văn hóa - Chợ phiên Đông Khánh Sơn” vì vậy được địa phương xác định là mô hình thí điểm. Sau từng phiên, các hoạt động sẽ được đánh giá về lượng khách, sản phẩm tiêu thụ, hiệu quả kết nối, hoạt động văn hóa và khả năng phục vụ du khách để tiếp tục hoàn thiện.
Điểm đáng chú ý là vấn đề kết nối “từ vườn đến phiên chợ”. Người sản xuất trực tiếp giới thiệu nông sản; doanh nghiệp, thương lái và người tiêu dùng có thể tìm hiểu sản phẩm tại chỗ. Các gian hàng được khuyến khích niêm yết giá, giới thiệu nguồn gốc, vùng trồng, áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt bằng mã QR và quảng bá trên các nền tảng số.
Theo kế hoạch của Ủy ban nhân dân xã Đông Khánh Sơn, mô hình hướng tới gắn hoạt động mua bán, quảng bá sản phẩm với trải nghiệm văn hóa, ẩm thực, nghề truyền thống và cảnh quan núi rừng; từng bước xây dựng chợ phiên trở thành điểm dừng chân, sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của địa phương.
Đây cũng là hướng khai thác phù hợp với điều kiện của Đông Khánh Sơn. Địa phương có cảnh quan núi rừng, khí hậu vùng cao, vùng cây ăn quả đặc sản và cộng đồng Raglai sở hữu nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Khi những nguồn lực này được kết nối, một chuyến đi có thể hình thành chuỗi trải nghiệm tương đối hoàn chỉnh: Săn mây trên đỉnh đèo, tham quan vườn cây, thưởng thức sầu riêng và trái cây tại vùng trồng, mua nông sản địa phương, ăn cơm lam, xem trình diễn Mã La, Chapi, đan lát và tìm hiểu đời sống cộng đồng Raglai.
Từ một mùa trái ngọt và một phiên chợ vùng cao, Đông Khánh Sơn đang thử nghiệm cách làm du lịch dựa trên những giá trị sẵn có: nông sản đặc trưng làm sản phẩm, cảnh quan núi rừng làm không gian trải nghiệm và văn hóa Raglai tạo bản sắc. Khi người dân thực sự trở thành chủ thể, sự kết hợp giữa nông nghiệp, văn hóa và du lịch có thể tạo thêm sinh kế, nâng giá trị sản vật địa phương, đồng thời mở thêm một điểm đến giàu bản sắc cho du lịch Khánh Hòa./.
Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...
Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.
Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.
Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.
Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.
Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.
Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.
Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.
Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.
Ở: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.
Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.
Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.
Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.
Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.
Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.
Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.
Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.
Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.
Theo cema.gov.vn