Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam

Dự án Cảng biển tổng hợp Cà Ná đang được thi công trên biển. Ảnh: Công Thử - TTXVN
Dự án Cảng biển tổng hợp Cà Ná đang được thi công trên biển. Ảnh: Công Thử - TTXVN

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành vừa ký Quyết định 1579/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam ảnh 1Dự án Cảng biển tổng hợp Cà Ná đang được thi công trên biển. Ảnh: Công Thử - TTXVN

Mục tiêu đến năm 2030 phát triển hệ thống cảng biển đồng bộ, hiện đại, dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

Về năng lực, đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu hàng hóa, giao thương giữa các vùng, miền trong cả nước và hàng trung chuyển, quá cảnh cho các nước trong khu vực cũng như nhu cầu vận tải hành khách nội địa và quốc tế. Hệ thống cảng biển đáp ứng thông qua lượng hàng hóa từ 1.140 đến 1.423 triệu tấn (trong đó hàng container từ 38 đến 47 triệu TEU); hành khách từ 10,1 đến 10,3 triệu lượt khách.

Về kết cấu hạ tầng, ưu tiên phát triển các khu bến cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng), Cái Mép (Bà Rịa-Vũng Tàu). Nghiên cứu cơ chế, chính sách phù hợp phát triển từng bước cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa) để khai thác tiềm năng về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý. Quy hoạch định hướng phát triển bến cảng Trần Đề (Sóc Trăng) phục vụ Đồng bằng sông Cửu Long để có thể triển khai đầu tư khi có đủ điều kiện; các cảng biển quy mô lớn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc liên vùng; các bến cảng khách quốc tế gắn với các vùng động lực phát triển du lịch; các bến cảng quy mô lớn phục vụ các khu kinh tế, khu công nghiệp; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng-an ninh và chủ quyền biển đảo.

Quyết định nêu rõ, Hệ thống cảng biển Việt Nam gồm 5 nhóm: Nhóm 1 gồm 5 cảng biển: Cảng biển Hải Phòng, cảng biển Quảng Ninh, cảng biển Thái Bình, cảng biển Nam Định và cảng biển Ninh Bình.

Đến năm 2030, hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 1 là từ 305 triệu tấn đến 367 triệu tấn (hàng container từ 11 đến 15 triệu TEU); hành khách từ 162.000 đến 164.000 lượt. Tầm nhìn đến năm 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 5,0-5,3%/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,5-1,6%/năm. Hoàn thành đầu tư khu bến cảng Lạch Huyện, Cái Lân và di dời các bến cảng trên sông Cấm phù hợp với quy hoạch phát triển thành phố Hải Phòng; đầu tư phát triển các bến cảng tại khu bến Nam Đồ Sơn - Văn Úc, Cẩm Phả, Hải Hà.

Nhóm 2 gồm 6 cảng biển: Cảng biển Thanh Hóa, cảng biển Nghệ An, cảng biển Hà Tĩnh, cảng biển Quảng Bình, cảng biển Quảng Trị và cảng biển Thừa Thiên - Huế. Đến năm 2030 hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 2 từ 172 triệu tấn đến 255 triệu tấn (hàng container từ 0,6-1 triệu TEU); hành khách từ 202.000 đến 204.000 lượt khách. Tầm nhìn đến năm 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,6-4,5%/năm; hành khách tăng trưởng bình quân từ 0,4-0,5%/năm. Hoàn thiện đầu tư, phát triển cụm cảng Nghi Sơn - Đông Hồi, Vũng Áng và Sơn Dương - Hòn La.

Nhóm 3 gồm 8 cảng biển: Cảng biển Đà Nẵng (gồm khu vực huyện đảo Hoàng Sa), cảng biển Quảng Nam, cảng biển Quảng Ngãi, cảng biển Bình Định, cảng biển Phú Yên, cảng biển Khánh Hòa (gồm khu vực huyện đảo Trường Sa), cảng biển Ninh Thuận và cảng biển Bình Thuận.

Đến năm 2030 hàng hóa thông qua từ 138 triệu tấn đến 181 triệu tấn (hàng container đạt từ 1,8-2,5 triệu TEU); hành khách từ 1,9-2,0 triệu lượt khách. Tầm nhìn đến năm 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,5-5,5 %/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,7-1,8%/năm. Hoàn thành đầu tư toàn bộ khu bến cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng) và hình thành cảng phục vụ hàng hóa trung chuyển quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa).

Nhóm 4 gồm 5 cảng biển: Cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh, cảng biển Đồng Nai, cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu, cảng biển Bình Dương và cảng biển Long An. Đến năm 2030 hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 4 từ 461-540 triệu tấn (hàng container từ 23-28 triệu TEU); hành khách từ 1,7-1,8 triệu lượt khách. Tầm nhìn đến năm 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,5-3,8 %/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 0,9-1,0 %/năm. Hoàn thành đầu tư các bến cảng Cái Mép Hạ. Nghiên cứu hình thành các khu bến cảng mới tại Cần Giờ (trên sông Gò Gia), hoàn thành công tác di dời các bến cảng trên sông Sài Gòn và tiếp tục nghiên cứu di dời các khu bến khác phù hợp với phát triển không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhóm 5 gồm 12 cảng biển: Cảng biển Cần Thơ, cảng biển Đồng Tháp, cảng biển Tiền Giang, cảng biển Vĩnh Long, cảng biển Bến Tre, cảng biển An Giang, cảng biển Hậu Giang, cảng biển Sóc Trăng, cảng biển Trà Vinh, cảng biển Cà Mau, cảng biển Bạc Liêu và cảng biển Kiên Giang.

Đến năm 2030 hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 5 từ 64-80 triệu tấn (hàng container từ 0,6-0,8 triệu TEU); hành khách từ 6,1-6,2 triệu lượt khách. Tầm nhìn đến năm 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 5,5-6,1%; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,1-1,25%. Hình thành cảng cửa ngõ khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Theo quy mô, chức năng, hệ thống cảng biển Việt Nam gồm: Cảng biển đặc biệt (2 cảng biển): Cảng biển Hải Phòng và cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Cảng biển loại I (15 cảng biển): Cảng biển Quảng Ninh, cảng biển Thanh Hóa, cảng biển Nghệ An, cảng biển Hà Tĩnh, cảng biển Thừa Thiên - Huế, cảng biển Đà Nẵng, cảng biển Quảng Nam, cảng biển Quảng Ngãi, cảng biển Bình Định, cảng biển Khánh Hòa, cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh, cảng biển Đồng Nai, cảng biển Cần Thơ, cảng biển Long An, cảng biển Trà Vinh. Trong đó, các cảng biển Thanh Hóa, Đà Nẵng, Khánh Hòa quy hoạch tiềm năng thành cảng biển đặc biệt.

Cảng biển loại II (6 cảng biển): Cảng biển Quảng Bình, cảng biển Quảng Trị, cảng biển Ninh Thuận, cảng biển Bình Thuận, cảng biển Hậu Giang, cảng biển Đồng Tháp.

Cảng biển loại III (13 cảng biển): Cảng biển Thái Bình, cảng biển Nam Định, cảng biển Ninh Bình, cảng biển Phú Yên, cảng biển Bình Dương, cảng biển Vĩnh Long, cảng biển Tiền Giang, cảng biển Bến Tre, cảng biển Sóc Trăng, cảng biển An Giang, cảng biển Kiên Giang, cảng biển Bạc Liêu, cảng biển Cà Mau. Trong đó, Cảng biển Sóc Trăng quy hoạch tiềm năng thành cảng biển đặc biệt.

Về định hướng hạ tầng giao thông kết nối, phát triển các tuyến đường sắt kết nối với cảng biển loại đặc biệt và cảng biển loại I trên hành lang Bắc - Nam; hình thành các bến cho phương tiện thủy nội địa trong vùng nước cảng biển; hệ thống đường bộ cao tốc kết nối với các cảng biển loại đặc biệt, hệ thống quốc lộ, đường địa phương kết nối trực tiếp đến hệ thống cảng biển...

TTXVN

TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Đưa dòng vốn chính sách đến đúng địa chỉ

Đưa dòng vốn chính sách đến đúng địa chỉ

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra với tỉnh Phú Thọ không chỉ là huy động đủ nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực ấy đến đúng nơi, đúng đối tượng, đúng nhu cầu.

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.