Rộn ràng thu hoạch nông sản dịp Tết Chôl Chnăm Thmây

Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer năm nay diễn ra trong 3 ngày (từ 14 - 16/4/2026). Thời điểm này, nhiều loại nông sản vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ. Trên các cánh đồng ở xã Long Hiệp (tỉnh Vĩnh Long), bà con Khmer vẫn tất bật ra đồng, tranh thủ từng ngày công để kịp thu hoạch hoàn tất trước ngày lễ chính (16/4), vừa đảm bảo sản xuất, vừa đón Tết trọn vẹn.

chol-chnam-thmay-15042026-02.jpg
Đồng bào Khmer ở xã Long Hiệp thu hoạch lạc dịp Tết Chôl Chnăm Thmây.

Tại ấp Tha La, gia đình ông Thạch Phì đang khẩn trương thu hoạch 2.500 m2 lạc, năng suất khoảng 800 kg/1.000 m2. Sau 3 tháng canh tác, trừ các chi phí, mỗi 1.000 m2, ông thu lãi khoảng 4 triệu đồng. Ngoài ra, gia đình còn có thêm nguồn thu từ 3.000 m2 trồng ớt, nuôi 3 con bò và mua bán nhỏ.

Ông Thạch Phì cho biết, việc thu hoạch vào những ngày đầu Tết là để tranh thủ thời tiết thuận lợi, giảm hao hụt và kịp hoàn tất công việc trước ngày lễ chính. “Làm nhanh cho xong để ngày 16 còn đi chùa, làm lễ tắm Phật cho trọn vẹn. Vào vụ thu hoạch, gia đình còn tạo việc làm cho khoảng 50 - 60 lao động địa phương, với thu nhập từ 150.000 - 200.000 đồng/ngày”, ông Thạch Phì nói.

Cùng thời điểm, gia đình ông Thạch Bi ở cùng ấp cũng đang hối hả thu hoạch 9.000 m2 lạc. Do liên kết sản xuất với doanh nghiệp bao tiêu, thời điểm thu hoạch được phía công ty thu mua đôn đốc để đảm bảo tiến độ giao hàng, nên những ngày này gia đình ông tập trung nhân lực làm việc liên tục từ sáng sớm. Theo ông Bi, dù trùng vào dịp Tết nhưng bà con vẫn tranh thủ làm cho kịp tiến độ, để hoàn tất thu hoạch trước ngày chính lễ, sau đó mới yên tâm nghỉ ngơi, đón Tết trọn vẹn.

Từ sáng sớm, từng nhóm lao động đã có mặt tại các ruộng lạc để thu hoạch. Anh Thạch LiNa (sinh năm 1996), không có đất sản xuất, cùng vợ làm thuê theo ngày để trang trải cuộc sống. “Mấy ngày này vợ chồng tôi tranh thủ làm để có thêm thu nhập, mua sắm lễ vật đi chùa và cho gia đình. Có việc là làm, Tết nhất cũng không nghỉ. Với công việc thu hoạch lạc, thu nhập của 2 vợ chồng khoảng 300.000 đồng/ngày”, anh Thạch LiNa chia sẻ.

Không riêng gia đình anh LiNa, nhiều lao động thời vụ trong ấp vẫn duy trì nhịp làm việc liên tục những ngày đầu năm mới. Do phụ thuộc vào công nhật, nếu nghỉ sớm sẽ ảnh hưởng đến thu nhập, nên bà con chủ yếu tập trung làm việc trước, sau đó mới dành thời gian tham gia các hoạt động lễ Tết.

Vợ chồng anh Thạch LiNa thu hoạch lạc thu nhập khoảng 300.000 đồng/ngày.

Vợ chồng anh Thạch LiNa thu hoạch lạc thu nhập khoảng 300.000 đồng/ngày.

Theo ông Huỳnh Văn Minh, Trưởng Ban Nhân dân ấp Tha La, toàn ấp có 439 hộ, trong đó hơn 80% là đồng bào Khmer. Ấp có 275 ha đất nông nghiệp, ngoài 175 ha trồng lúa, phần lớn diện tích còn lại được người dân tận dụng trồng màu. Những năm gần đây, nhờ đa dạng sinh kế, nhiều mô hình sản xuất góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Số hộ nghèo giảm mạnh, từ hơn 60 hộ năm 2020 xuống chỉ còn 5 hộ hiện nay. Địa phương phấn đấu trong năm nay xóa 100% hộ nghèo.

Bên cạnh cây lạc, vụ ngô giống năm nay mang lại niềm vui lớn cho nhiều hộ đồng bào Khmer ở xã Long Hiệp, năng suất và giá bán đều tăng cao so với vụ trước nên nông dân thu được lãi khá.

Ông Thạch Sang, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất lúa và ngô giống ấp Giồng Chanh B cho biết, tổ có hơn 60 thành viên, canh tác khoảng 30 ha ngô giống. Vụ Đông Xuân năm nay, nhờ chuyển sang trồng giống mới và liên kết với doanh nghiệp bao tiêu giá 16.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 3.000 đồng/kg so với trước, năng suất đạt trên 1 tấn/1.000 m2, tăng 300 - 400 kg/1.000 m2 so với giống cũ nên lợi nhuận đạt hơn 7 triệu/1.000 m2.

“Ngô giống năm nay trúng mùa, được giá, bà con rất phấn khởi, có điều kiện chuẩn bị Tết đầy đủ hơn”, ông Sang cho biết.

Xã Long Hiệp là địa bàn vùng sâu của tỉnh Vĩnh Long, có diện tích tự nhiên hơn 6.500 ha, với 22 ấp, trên 7.200 hộ dân với hơn 30.000 nhân khẩu; trong đó đồng bào Khmer chiếm trên 82%. Đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với trồng trọt và chăn nuôi là ngành nghề chính.

Những năm qua, nhờ sự quan tâm đầu tư của Trung ương và địa phương, cùng việc triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là xây dựng nông thôn mới, cùng các chính sách dân tộc, hệ thống hạ tầng thiết yếu như giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, điện, thủy lợi từng bước được hoàn thiện, đời sống người dân ngày càng nâng cao.

Ông Nguyễn Khánh Hòa, Chủ tịch UBND xã Long Hiệp cho biết, địa phương đang tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển các mô hình liên kết gắn với tiêu thụ sản phẩm, qua đó từng bước nâng cao thu nhập cho người dân. Đặc biệt, mô hình trồng ngô giống có liên kết bao tiêu đang mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần tạo việc làm và ổn định đời sống cho nhiều hộ dân.

Dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, dù nhiều lao động vẫn tranh thủ ra đồng thu hoạch để tăng thu nhập, nhưng địa phương cũng tạo điều kiện để bà con tham gia các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, nhất là trong ngày chính lễ. “Chúng tôi vừa vận động người dân tập trung sản xuất, vừa quan tâm chăm lo đời sống tinh thần để bà con đón Tết vui tươi, an toàn, tiết kiệm”, ông Nguyễn Khánh Hòa cho biết.

Đồng bào ở xã Long Hiệp thu hoạch lạc dịp Tết Chôl Chnăm Thmây.

Đồng bào ở xã Long Hiệp thu hoạch lạc dịp Tết Chôl Chnăm Thmây.

Tỉnh Vĩnh Long có gần 3,4 triệu dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 10%. Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Vĩnh Long, những năm qua, tỉnh đặc biệt quan tâm triển khai hiệu quả các chính sách dân tộc và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã đầu tư xây dựng hàng trăm công trình hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ nhà ở, đất ở, chuyển đổi nghề và tạo sinh kế cho người dân, góp phần giảm mạnh tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh còn 1.119 hộ nghèo, chiếm 1,16% số hộ dân của tỉnh.

Bà Thạch Thị Thu Hà, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Vĩnh Long cho biết, cùng với đầu tư hạ tầng, địa phương chú trọng hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều mô hình sản xuất phù hợp đã được triển khai, giúp người dân từng bước ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững.

“Việc triển khai đồng bộ các chính sách không chỉ cải thiện điều kiện sống mà còn góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer. Đây cũng là nền tảng để bà con đón Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây trong không khí vui tươi, phấn khởi và tiếp tục nỗ lực phát triển kinh tế trong thời gian tới”, bà Thạch Thị Thu Hà nhấn mạnh.

Trong nhịp lao động hối hả của những ngày đầu năm mới trên đồng ruộng, niềm vui Tết vẫn len lỏi trên từng cánh đồng. Với đồng bào Khmer Vĩnh Long, làm việc những ngày đầu năm không chỉ là mưu sinh mà còn là cách để chuẩn bị cho một cái Tết trọn vẹn hơn, trước khi cùng gia đình bước vào ngày chính lễ tại chùa với nhiều kỳ vọng tốt đẹp trọn vẹn cho một năm mới./.

Bài và ảnh: Thanh Hòa/TTXVN
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Phổ cập kỹ năng số từ tuyên truyền sang trải nghiệm an toàn

Phổ cập kỹ năng số từ tuyên truyền sang trải nghiệm an toàn

Từ hướng dẫn người dân cài đặt, sử dụng VNeID, thực hiện dịch vụ công trực tuyến đến hỗ trợ thanh toán không dùng tiền mặt, các tổ công nghệ số cộng đồng tại Tây Ninh đang từng bước đưa chuyển đổi số đi vào đời sống bằng những việc làm cụ thể.

Gia Lai đặt mục tiêu giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi

Gia Lai đặt mục tiêu giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi

Năm 2025, tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi tại khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai là 21,9%, cao hơn mức 14,6% ở khu vực phía Đông. Tương tự, tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi tại khu vực phía Tây là 16,8%, trong khi khu vực phía Đông là 11,2%. Sự chênh lệch này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe trẻ em tại các địa bàn khó khăn.

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Nằm cạnh khe suối, ở khu vực trũng thấp, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Lượng Minh, xã Lượng Minh, tỉnh Nghệ An thường xuyên đối mặt nguy cơ ngập lụt mỗi khi mưa lớn.

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Chiều 10/10, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Quảng Trị cho biết, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở nhiều tuyến giao thông, chia cắt một số bản làng tại các xã miền núi, đồng thời gây thiệt hại về sản xuất nông nghiệp và công trình thủy lợi. Đặc biệt, một phụ nữ ở xã Dân Hóa bị nước lũ cuốn trôi, hiện các lực lượng chức năng đang khẩn trương tổ chức tìm kiếm.

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Ngày 10/10, mưa lớn kéo dài khiến tình hình lũ trên các sông ở tỉnh Quảng Trị tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều ngầm tràn, tuyến đường bị ngập sâu, ảnh hưởng đến giao thông và đời sống người dân. Trước nguy cơ mất an toàn do mưa lũ, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đang tăng cường kiểm tra, cảnh báo, triển khai các biện pháp ứng phó nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Ngày 9/10, tại bản Eo Bù - Chút Mút, xã Kim Ngân, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức chương trình “Thời sự về bản” quý III/2026, kết hợp tuyên truyền, chăm lo đời sống và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân địa phương.

Luyện đua ghe ngo mini mừng lễ Sen Đôn-ta

Luyện đua ghe ngo mini mừng lễ Sen Đôn-ta

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón lễ Sen Đôn-ta của đồng bào Khmer tại xã Hồ Thị Kỷ (tỉnh Cà Mau) càng thêm rộn ràng. Cùng với việc sửa sang nhà cửa, người dân còn háo hức tập luyện cho giải đua ghe ngo mini - nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer.

Lâm Đồng: Sạt lở kéo dài, 28 hộ dân thấp thỏm lo âu

Lâm Đồng: Sạt lở kéo dài, 28 hộ dân thấp thỏm lo âu

Gần 1 năm sau khi xảy ra sạt lở tại khu dân cư ven Quốc lộ 27 (đoạn thuộc thôn Lạc Xuân, xã D’ran, Lâm Đồng), hàng chục hộ dân vẫn thấp thỏm lo âu khi hiện tượng sạt trượt đất đá từ quả đồi cao hàng chục mét vẫn tiếp diễn, nhất là sau những trận mưa vừa qua.

Tiếp thêm động lực cho đồng bào Khmer nỗ lực vươn lên

Tiếp thêm động lực cho đồng bào Khmer nỗ lực vươn lên

Nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, các đoàn công tác của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau đã đến thăm, chúc mừng các vị chức sắc, sư sãi, người có uy tín và đồng bào tại nhiều địa phương trong tỉnh.

Khẩn trương khống chế dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò

Khẩn trương khống chế dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò

Trước diễn biến dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò, tỉnh Tuyên Quang yêu cầu các địa phương nhanh chóng thực hiện các biện pháp phòng, chống, nhất là bố trí kinh phí mua vaccine phòng bệnh, tổ chức tiêm phòng cho đàn trâu, bò, bảo đảm tỷ lệ đạt hơn 80% tổng đàn theo quy định.

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Để đồng bào Chăm Islam dễ hiểu và thực hiện đúng pháp luật, Ban Quản trị thánh đường tại phường Bình Tiên, TP Hồ Chí Minh lồng ghép những tình huống đời thường vào các buổi sinh hoạt tôn giáo. Qua cách trao đổi gần gũi, bà con biết nhận diện lừa đảo và phòng tránh vi phạm.

Động lực thay đổi diện mạo nông thôn

Động lực thay đổi diện mạo nông thôn

Tại Tuyên Quang, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có vai trò quan trọng và là động lực cốt lõi để thay đổi diện mạo nông thôn.

Mở rộng nhịp cầu giao thương Việt - Trung

Mở rộng nhịp cầu giao thương Việt - Trung

Từ những sản phẩm chè Shan tuyết, dược liệu, nông sản chế biến đến các sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) mang đặc trưng miền núi, nhiều hàng hóa thế mạnh của Tuyên Quang đang đứng trước cơ hội tiếp cận rộng hơn với thị trường Trung Quốc.

Lâm Đồng: Huy động lực lượng bảo vệ hơn 1,1 triệu ha rừng

Lâm Đồng: Huy động lực lượng bảo vệ hơn 1,1 triệu ha rừng

Ngày 8/10, ông Lê Thanh Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng cho biết đã chỉ đạo các đơn vị liên quan triển khai Quy chế phối hợp huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh và chủ động tăng cường công tác bảo vệ rừng.