Tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mở rộng quyền lợi cho người nghèo
Năm 2026, hộ nghèo tiếp tục được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước về y tế, giáo dục, trợ giúp xã hội và tiền điện sinh hoạt.
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 351/2025/NĐ-CP, chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 tiếp tục được áp dụng từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2026. Theo đó, việc xác định hộ nghèo vẫn căn cứ vào thu nhập bình quân đầu người và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
Cụ thể, tại khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 1,5 triệu đồng/tháng trở xuống và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Tại khu vực thành thị, mức thu nhập bình quân đầu người được xác định từ 2 triệu đồng/tháng trở xuống, đồng thời thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Việc đánh giá mức độ thiếu hụt được thực hiện theo các chỉ số quy định tại Nghị định 07/2021/NĐ-CP, bao gồm những lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bản như việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh và thông tin.
Một trong những thay đổi đáng chú ý trong năm 2026 là việc điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP. Theo đó, mức chuẩn mới được nâng lên 540.000 đồng/tháng, tăng 40.000 đồng so với mức 500.000 đồng/tháng trước đây.
Mức chuẩn này là căn cứ để tính các khoản trợ cấp xã hội hằng tháng đối với những nhóm đối tượng bảo trợ xã hội. Chính sách mới này có hiệu lực từ ngày 5/10/2026, nhưng được áp dụng từ ngày 1/7/2026; người đang hưởng trợ cấp theo quy định cũ được chuyển sang mức mới và truy lĩnh phần chênh lệch theo quy định.
Đối với người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, một số nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng gồm trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; người đơn thân thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo đang nuôi con và người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đang hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hằng tháng.
Trong đó, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo dưới 4 tuổi được hưởng mức trợ cấp bằng 2,5 lần mức chuẩn, tương đương 1,35 triệu đồng/tháng. Trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi được hưởng mức bằng 2 lần mức chuẩn, tương đương 1,08 triệu đồng/tháng.
Đáng chú ý, chính sách mới cũng điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện để người từ đủ 16 tuổi thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội đang học phổ thông, học nghề hoặc đại học văn bằng thứ nhất tiếp tục được hưởng chính sách đến hết khóa học, không còn khống chế độ tuổi tối đa 22 tuổi như trước.
Bên cạnh trợ cấp xã hội, người thuộc hộ nghèo tiếp tục được Nhà nước hỗ trợ về y tế nhằm giảm gánh nặng chi phí khi ốm đau, bệnh tật.
Theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2024, người thuộc hộ gia đình nghèo thuộc nhóm do ngân sách Nhà nước đóng bảo hiểm y tế. Như vậy, người thuộc hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế mà không phải tự đóng tiền mua thẻ.
Đặc biệt, một số trường hợp người thuộc hộ nghèo tự đi khám, chữa bệnh không đúng cơ sở đăng ký khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu hoặc không đúng quy định về chuyển người bệnh vẫn được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% mức hưởng. Chính sách này áp dụng đối với người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã đảo và đặc khu theo quy định.
Trong lĩnh vực giáo dục, người thuộc hộ nghèo tiếp tục là một trong những nhóm được Nhà nước ưu tiên hỗ trợ nhằm tạo điều kiện tiếp cận giáo dục, hạn chế nguy cơ trẻ em phải bỏ học do hoàn cảnh kinh tế.
Theo Nghị định 238/2025/NĐ-CP, học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo là đối tượng được xem xét hưởng chính sách miễn học phí theo các điều kiện quy định. Trong đó, chính sách miễn học phí áp dụng đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số có cha hoặc mẹ, cả cha và mẹ hoặc ông, bà (trong trường hợp ở với ông, bà) thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo khi học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
Ngoài ra, trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và học viên học theo chương trình giáo dục phổ thông tại cơ sở giáo dục thường xuyên có cha hoặc mẹ, cả cha và mẹ hoặc ông, bà (trong trường hợp ở với ông, bà) thuộc hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học tập theo quy định.
Theo quy định tại Thông tư 190/2014/TT-BTC, mỗi hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh theo giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành. Mức hỗ trợ theo dữ liệu được cung cấp là 46.000 đồng/hộ/tháng.
Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước
Theo công bố đầu năm 2026, cả nước hiện có 1.089.151 hộ nghèo và hộ cận nghèo đa chiều, chiếm 2,95% tổng số hộ dân. Đây là kết quả rà soát theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025, làm căn cứ triển khai các chính sách an sinh xã hội năm 2026.
Tỷ lệ nghèo đa chiều có sự chênh lệch rõ rệt giữa các vùng. Trung du và miền núi phía Bắc là khu vực có tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất cả nước, lên tới 13,27% dân số, tương ứng 417.044 hộ (chiếm hơn 38% hộ nghèo, cận nghèo cả nước). Trong đó, hộ nghèo chiếm 7,29% (229.032 hộ) và hộ cận nghèo chiếm 5,98% (188.012 hộ).
Khu vực Bắc Trung Bộ đứng thứ hai với tỷ lệ nghèo đa chiều 6,57% dân số , tương ứng 203.561 hộ, gồm 74.998 hộ nghèo và 128.563 hộ cận nghèo. Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có tỷ lệ 5,17% dân số, với 231.419 hộ nghèo và cận nghèo.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ nghèo đa chiều là 2,74% dân số, tương ứng 122.561 hộ. Trong khi đó, Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ thấp hơn, ở mức 1,36% dân số với 98.235 hộ nghèo và cận nghèo. Đông Nam Bộ là khu vực có tỷ lệ nghèo đa chiều thấp nhất cả nước, chỉ 0,29%, tương ứng 16.331 hộ.
Dự báo số nghèo và cận nghèo còn thay đổi khi chuẩn hộ nghèo về thu nhập sẽ nâng lên từ năm 2027. Dù vậy, những chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, trợ giúp xã hội và chi phí sinh hoạt tiếp tục là điểm tựa đối với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Việc duy trì chuẩn nghèo đa chiều trong năm 2026, đồng thời điều chỉnh mức trợ giúp xã hội, góp phần bảo đảm an sinh và tạo điều kiện để người nghèo từng bước cải thiện đời sống.