Ứng dụng công nghệ mở hướng phát triển dược liệu na rừng ở miền núi

Từ nghiên cứu nguồn gen, hoàn thiện quy trình nhân giống đến xây dựng mô hình trồng và phát triển vùng nguyên liệu đang mở hướng phát triển dược liệu na rừng ở miền núi.

Đề tài “Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen dược liệu na rừng tại Thanh Hóa và các tỉnh Bắc Trung Bộ” đã tạo nền tảng khoa học và kỹ thuật cho việc khai thác, phát triển nguồn dược liệu bản địa. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng phát triển cây na rừng theo hướng có cơ sở khoa học, phù hợp với tiềm năng và điều kiện sinh thái miền núi.

Từ nguồn gen bản địa đến quy trình nhân giống

Bắc Trung Bộ có hệ thực vật phong phú, với 4.133 loài thực vật bậc cao có mạch theo tài liệu của đề tài, chiếm 39,06% tổng số loài trong hệ thực vật Việt Nam. Đây cũng là khu vực có nhiều loài dược liệu quý, có giá trị kinh tế, trong đó có na rừng.

Tuy vậy, việc khai thác liên tục trong nhiều năm, trong khi hoạt động gây trồng và phát triển chưa được chú trọng, đã khiến nguồn nguyên liệu na rừng ngoài tự nhiên suy giảm. Các thông tin nghiên cứu về loài cây này, trong đó có nguồn gen chuẩn và hoạt chất chính, cũng còn hạn chế.

Khu vực vườn ươm na rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên.
Khu vực vườn ươm na rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên.

Từ thực tế đó, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên đã đề xuất và triển khai đề tài, điều tra hiện trạng phân bố, đặc điểm nông sinh học, thực trạng khai thác, kinh doanh và giá trị sử dụng của nguồn gen na rừng tại vùng núi Bắc Trung Bộ. Đồng thời, đánh giá đa dạng di truyền thông qua các đặc điểm hình thái của thân, lá, hoa, quả kết hợp phân tích ở mức độ phân tử (ADN). Kết quả phân tích chia nguồn gen na rừng thành 5 nhóm chính.

Trên cơ sở kết quả điều tra và đánh giá, đề tài xây dựng vườn giống gốc diện tích 1 ha, thu thập 1.000 cây từ các tỉnh Bắc Trung Bộ. Đây là cơ sở phục vụ việc lưu giữ, nghiên cứu và phát triển nguồn gen, tạo tiền đề cho các hoạt động nhân giống và gây trồng Na rừng.

Một trong những kết quả đáng chú ý của đề tài là xây dựng vườn ươm cây giống diện tích 300 m²2, quy mô 50.000 cây giống/năm. Vườn ươm được bố trí các khu gieo hạt, giâm hom và chăm sóc cây giống. Đề tài đã sản xuất 50.000 cây Na rừng, gồm 25.000 cây từ gieo hạt và 25.000 cây từ giâm hom.

Cùng với đó, nhóm nghiên cứu xây dựng hai mô hình trồng na rừng. Mô hình trồng tập trung có diện tích 1 ha, mật độ 2.000–2.500 cây/ha, tỷ lệ cây sống đạt 95%. Mô hình trồng dưới tán rừng có diện tích 3 ha, mật độ 1.250 cây/ha, tỷ lệ cây sống cũng đạt 95%.

Hai mô hình cho thấy na rừng đã được đưa vào thử nghiệm gây trồng theo các phương thức khác nhau, thay vì chỉ dựa vào nguồn nguyên liệu khai thác trong tự nhiên. Đây là cơ sở thực tiễn để tiếp tục đánh giá khả năng phát triển loài cây dược liệu này tại những địa bàn phù hợp.

Để phục vụ quá trình gây trồng và tạo nguyên liệu, đề tài xây dựng 4 quy trình kỹ thuật, gồm nhân giống bằng phương pháp gieo hạt; nhân giống bằng phương pháp giâm hom; trồng, chăm sóc dược liệu na rừng theo hướng dẫn GACP-WHO; thu hái, sơ chế và bảo quản dược liệu Na rừng theo hướng dẫn GACP-WHO.

Đề tài cũng xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu Na rừng, có chỉ tiêu định lượng thành phần hóa học chính, đồng thời sản xuất được 3 tấn dược liệu đạt tiêu chuẩn cơ sở. Kết quả này bổ sung các căn cứ kỹ thuật cho việc tổ chức sản xuất nguyên liệu, từ khâu nhân giống, trồng và chăm sóc đến thu hái, sơ chế, bảo quản.

Mở hướng phát triển nguồn dược liệu miền núi

Cùng với các mô hình và quy trình kỹ thuật, đề tài đã tổ chức tập huấn, chuyển giao công nghệ cho cán bộ khuyến nông và người dân địa phương. Hoạt động này góp phần phổ biến kỹ thuật nhân giống, gây trồng và xử lý dược liệu Na rừng, tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được tiếp cận trong thực tiễn.

Quả na rừng.
Quả na rừng.

Đối với các địa bàn miền núi có nguồn tài nguyên thực vật phong phú, phát triển cây dược liệu từ nguồn gen bản địa là một hướng có thể xem xét nhằm khai thác tiềm năng tự nhiên gắn với bảo tồn tài nguyên. Những kết quả về vườn giống gốc, vườn ươm quy mô 50.000 cây giống/năm, hai mô hình trồng và 4 quy trình kỹ thuật của đề tài Na rừng đã bổ sung cơ sở khoa học và kỹ thuật cho hướng đi này.

Để phát triển thành vùng nguyên liệu ổn định, việc nhân rộng mô hình cần tiếp tục gắn với điều kiện sinh thái, khả năng chăm sóc, hiệu quả sản xuất và đầu ra của dược liệu. Các số liệu về năng suất qua các vụ thu hái, chi phí đầu tư, giá bán và thu nhập của hộ trồng sẽ là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế, từ đó xác định khả năng mở rộng tại những địa bàn phù hợp.

Từ nghiên cứu nguồn gen đến xây dựng mô hình trồng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật, đề tài đã tạo được những nền tảng ban đầu cho việc phát triển na rừng thành nguồn nguyên liệu dược liệu được gây trồng.

Khi được kết nối với nhu cầu thị trường và tư vấn, phổ biến kiến thức, tổ chức sản xuất phù hợp, những kết quả nghiên cứu về na rừng có thể trở thành nền tảng để phát triển vùng dược liệu bản địa, khai thác lợi thế sinh thái miền núi và từng bước nâng cao giá trị kinh tế cho người dân.

XL

Có thể bạn quan tâm

Phát triển sinh kế từ nghề miến dong ở Bản Xèo

Phát triển sinh kế từ nghề miến dong ở Bản Xèo

Các lớp tập huấn do địa phương tổ chức giúp người làm miến dong ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) bổ sung kiến thức kinh doanh, quảng bá và bán hàng trực tuyến, có thêm kỹ năng tìm kiếm khách hàng, tiêu thụ sản phẩm. Từ thực tế áp dụng tại các hộ gia đình, hợp tác xã, việc học gắn với giải quyết những khó khăn về kỹ thuật, tổ chức sản xuất và đầu ra góp phần nâng hiệu quả nghề truyền thống, tạo điều kiện duy trì việc làm, mở thêm cơ hội thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

Tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Điện Biên

Tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Điện Biên

Với 350 dự án, mô hình hỗ trợ sản xuất, tổng kinh phí hơn 1.014 tỷ đồng và sự tham gia của 11.625 lượt hộ gia đình, Điện Biên đang từng bước đưa nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia vào thực tiễn, tạo sinh kế, cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.

Người có uy tín vận động đồng bào phát triển kinh tế, chấp hành quy định pháp luật

Người có uy tín vận động đồng bào phát triển kinh tế, chấp hành quy định pháp luật

Ông Y Hồng, người có uy tín tại Suối Sim (Khánh Hòa) đang đồng hành cùng bà con Ê Đê trồng cây dược liệu, tạo thêm hướng phát triển kinh tế. Từ việc làm gương, hướng dẫn sản xuất đến vận động chấp hành pháp luật, ông góp phần giúp người dân từng bước thay đổi cách nghĩ, cách làm.

Tuyên Quang chú trọng đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng

Tuyên Quang chú trọng đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng

Nhằm tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng không gian phát triển đến năm 2030, tỉnh Tuyên Quang đang tập trung đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng, tạo sức lan tỏa và dẫn dắt phát triển gắn với quy hoạch tỉnh và điều chỉnh quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thái Nguyên đưa tuyến xe buýt điện đầu tiên vào hoạt động

Thái Nguyên đưa tuyến xe buýt điện đầu tiên vào hoạt động

Nhân kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh Thái Nguyên và Festival trà quốc tế - Thái Nguyên 2026, sáng 30/10, Công ty Cổ phần thương mại và du lịch Hà Lan đã tổ chức khai trương tuyến xe buýt điện số 01, kết nối Tân Long (Thái Nguyên) - Đa Phúc (Hà Nội).

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Giữa đại ngàn Ngọc Linh, xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng, học sinh dân tộc Xơ Đăng đang từng bước tiếp cận máy tính, internet và những bài học trực quan.

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Từ lâu, cây hồi đã gắn bó với người dân xứ Lạng. Mùa thu hoạch chính từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Đây là cây trồng chủ lực phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Lạng Sơn, cây hồi không chỉ phủ xanh đất mà còn đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Từ những mô hình hỗ trợ sinh kế thiết thực, nhiều hộ nghèo, cận nghèo tại các xã vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk đã từng bước cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống. Qua đó, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tạo nền tảng để địa phương thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đưa các xã, thôn, buôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030.

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Thay vì chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm tương tác hay những đơn hàng nhỏ lẻ trên không gian mạng, nhiều nông dân tại Quảng Ninh đang tận dụng lợi thế từ các nền tảng số để từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu bài bản.