Tạo nền tảng để đồng bào dân tộc thiểu số chủ động phát triển kinh tế

Với địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều, Lâm Đồng xác định phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ quan trọng, gắn với giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn bản sắc văn hóa và củng cố quốc phòng - an ninh, nhất là tại các địa bàn biên giới.

lam-dong-3.jpg
Mô hình trồng cà phê mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc tại xã biên giới Thuận An (Lâm Đồng).

Từ hỗ trợ sang trao cơ hội làm chủ sinh kế

Lâm Đồng hiện có 49 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số hơn 683.000 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh. Những năm qua, các Chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên nguồn lực cho các địa bàn đặc biệt khó khăn; tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân.

Nhờ triển khai đồng bộ các nguồn lực và chính sách hỗ trợ, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện, công tác giảm nghèo đạt kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh giảm từ 9,33% (cuối năm 2021) xuống còn 3,33% (cuối năm 2025), giảm gần 50.000 hộ nghèo. Riêng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 26,96% xuống còn 9,18%, bình quân giai đoạn 2021-2025 giảm 3,56%/năm.

Vùng sản xuất hồ tiêu theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Quảng Khê, tỉnh Lâm Đồng.

Vùng sản xuất hồ tiêu theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Quảng Khê, tỉnh Lâm Đồng.

Từ kết quả đó, địa phương đang từng bước chuyển trọng tâm từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và làm chủ sinh kế. Xã biên giới Quảng Trực là một trong những địa bàn thể hiện rõ sự chuyển biến này. Với diện tích tự nhiên hơn 55.800ha, đường biên giới giáp Campuchia dài 41,6km, những năm gần đây, nhờ nguồn lực đầu tư của Nhà nước, hệ thống giao thông, công trình dân sinh và hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống tại địa phương từng bước được hoàn thiện. Đây là điều kiện quan trọng để người dân ổn định cuộc sống, đồng thời chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu và nhu cầu thị trường.

Trong sản xuất nông nghiệp, Quảng Trực chú trọng hình thành các vùng sản xuất tập trung, phát triển những cây trồng có lợi thế cạnh tranh, cho giá trị kinh tế cao. Toàn xã hiện có hơn 2.700ha cà phê và hơn 1.350ha mắc ca. Tại bon Bu Nung, đồng bào M'nông đang từng bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang phát triển các loại cây trồng này. Ông Điểu Sranh (bon Bu Nung) cho biết, trước đây người dân chủ yếu trồng lúa và các loại cây truyền thống hiệu quả kinh tế không cao.

Người dân xã Đạ Tẻh 2 (tỉnh Lâm Đồng) phát triển vùng chuyên canh sầu riêng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Người dân xã Đạ Tẻh 2 (tỉnh Lâm Đồng) phát triển vùng chuyên canh sầu riêng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Được địa phương vận động, tuyên truyền, có cán bộ khuyến nông hướng dẫn, bà con vừa học, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Một số gia đình làm trước để bà con trong bon noi theo. Hiện năng suất cà phê của gia đình ông Điểu Sranh và nhiều hộ trong bon đạt khoảng 2 - 3 tấn/ha, hồ tiêu khoảng 2 tấn/ha. Những năm gần đây, giá cà phê, hồ tiêu duy trì ở mức cao, tạo động lực để người dân đầu tư mở rộng sản xuất, nhiều hộ có điều kiện xây dựng nhà ở khang trang.

Ông Đoàn Minh Thuận, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Trực cho biết, thời gian tới, địa phương tiếp tục huy động các nguồn lực đầu tư hạ tầng; đồng thời tập trung hướng dẫn người dân phát triển các cây trồng chủ lực như mắc ca, cà phê, lúa nước. Xã đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, mở rộng liên kết sản xuất và tiêu thụ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người dân.

Từ thực tế ở Quảng Trực có thể thấy, hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở việc hỗ trợ cây giống, vật tư hay vốn sản xuất, mà quan trọng hơn là giúp người dân thay đổi tư duy, phương thức canh tác và từng bước hình thành sinh kế ổn định. Khi người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển, nguồn lực đầu tư của Nhà nước sẽ có điều kiện phát huy hiệu quả lâu dài.

Tập trung nguồn lực, hướng về cơ sở

Công trình nước sạch được đầu tư tại xã biên giới Quảng Trực (Lâm Đồng), góp phần bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Công trình nước sạch được đầu tư tại xã biên giới Quảng Trực (Lâm Đồng), góp phần bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Tiếp đà những kết quả đạt được, giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Lâm Đồng sẽ đẩy mạnh lồng ghép các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và các địa bàn biên giới.

Đối với khu vực biên giới, tỉnh đã phê duyệt Đề án ổn định dân cư các xã khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2026 - 2030 tại 5 xã. Đề án phấn đấu đến năm 2030 đưa tỷ lệ hộ nghèo tại 5 xã xuống dưới 3%; bố trí đất ở cho 860 hộ, đất sản xuất cho 1.027 hộ, hỗ trợ xây dựng 402 căn nhà và hoàn thiện hạ tầng thiết yếu tại 36 thôn, bon, buôn, bản.

Trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030, Lâm Đồng xác định hướng tới phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững, lấy người dân làm trung tâm, chú trọng chất lượng và tính thực chất. Đến năm 2030, Lâm Đồng đặt mục tiêu khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 của tỉnh; khoảng 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại trên số xã đạt chuẩn nông thôn mới; đồng thời có thêm 10 phường, đặc khu Phú Quý hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Tỉnh phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân khoảng 0,68%/năm trong giai đoạn 2027 - 2030; giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số từ 2 - 3%/năm và đưa khoảng 50% số xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Khoảnh khắc quây quần ấm áp của một gia đình đồng bào M’nông ở xã biên giới Quảng Trực (Lâm Đồng).

Khoảnh khắc quây quần ấm áp của một gia đình đồng bào M’nông ở xã biên giới Quảng Trực (Lâm Đồng).

Để thực hiện các mục tiêu trên, Lâm Đồng có quyết định bố trí trên 5.778 tỷ đồng vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 cho các Chương trình mục tiêu quốc gia; trong đó ngân sách Trung ương khoảng 2.438 tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng 3.340 tỷ đồng, khoảng 75% nguồn lực được ưu tiên phân cấp cho cấp xã. Nguồn lực này tập trung đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, trường học, hạ tầng số và các công trình thiết yếu tại khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ đó, giúp các địa phương từng bước hoàn thiện điều kiện sản xuất, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội, tạo nền tảng để người dân phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên, tỉnh sẽ huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ Trung ương, địa phương và xã hội để triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và đô thị, giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi với các vùng phát triển. Cùng với phát triển kinh tế, Lâm Đồng chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng - an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội.

Từ phát triển sản xuất đến các chương trình đầu tư hạ tầng, ổn định dân cư và giảm nghèo trên quy mô toàn tỉnh, Lâm Đồng đang từng bước chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển kinh tế. Khi sinh kế được bảo đảm, hạ tầng được hoàn thiện và người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển, các nguồn lực đầu tư sẽ phát huy hiệu quả bền vững hơn trong giai đoạn mới./.

Nguyễn Huy Thành/TTXVN
Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

Ở: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.