Tết Nhâm Dần 2022: Độc đáo tranh dân gian làng Sình

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước in tranh. Ảnh: Tường Vi – TTXVN
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước in tranh. Ảnh: Tường Vi – TTXVN

Mỗi dịp Tết đến Xuân về, không khí tại làng nghề tranh dân gian làng Sình, xã Phú Mậu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế lại rộn ràng hơn. Với lịch sử gần 450 năm, tranh dân gian làng Sình không chỉ được đánh giá cao về nghệ thuật tạo hình mà còn gắn liền với đời sống văn hóa tâm linh, trở thành nét văn hóa độc đáo của vùng đất Cố đô.

Tết Nhâm Dần 2022: Độc đáo tranh dân gian làng Sình ảnh 1Nhiều người dân và du khách về làng Sình để trải nghiệm các công đoạn làm tranh dân gian truyền thống. Ảnh: Tường Vi – TTXVN

Tranh làng Sình là tranh mộc bản, với các bản khắc được làm từ gỗ mít, gỗ thị, có độ dày tương đối phù hợp với việc lưu giữ lâu dài. Theo các cao niên trong làng, nghề làm tranh ở làng Sình xuất hiện từ xa xưa, sau khi làng được lập không lâu. “Ông tổ” của làng cũng là người từ Bắc Ninh vào. Vì thế, ban đầu tranh làng Sình có nhiều đặc điểm giống với tranh Đông Hồ. Tuy nhiên, để phù hợp với nhu cầu tín ngưỡng trong lễ cầu an, lễ giải hạn, dịp Tết ở đây nên nghệ nhân đã chế ra các mộc bản khác, phù hợp hơn.

Tranh làng Sình có ba nhóm chính gồm tranh nhân vật, tranh đồ vật và tranh con vật, chủ yếu phục vụ nhu cầu thờ cúng. Trong đó, tranh nhân vật gồm hai bộ thế mạng và bổn mạng, chủ yếu là tranh tượng bà gồm tượng đế, tượng chùa, tượng ngang thường dùng dán trên bàn thờ quanh năm. Ngoài ra còn có tranh vẽ hình đàn ông, đàn bà, tranh ông Điệu, ông Đốc và Tờ bếp dùng để hóa như hóa vàng. Tranh đồ vật chủ yếu vẽ hình áo quần, tiền, dụng cụ... Tranh con vật gồm một bộ gia súc, gia cầm và riêng một bộ 12 con giáp.

Tết Nhâm Dần 2022: Độc đáo tranh dân gian làng Sình ảnh 2Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước in tranh. Ảnh: Tường Vi – TTXVN

Những ngày cuối năm, tại gia đình nghệ nhân Kỳ Hữu Phước không khí làm tranh tất bật hơn để phục vụ dịp Tết cổ truyền. Bàn tay thoăn thoắt in tranh, Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước chia sẻ, đến nay, gia đình ông đã có 10 đời theo nghề làm tranh dân gian làng Sình. Đã có khoảng thời gian dài, nghề làm tranh làng Sình bị cấm, những mộc bản để in tranh bị tịch thu và tiêu hủy nhưng ông đã thu gom, đào hầm để chôn mộc bản mà cha ông để lại. Khi có chủ trương khôi phục lại nghề vẽ tranh truyền thống, nhờ được cha ông chỉ dạy trước đó, ông đã khắc thêm bản vẽ từ bản gốc còn giữ được để tặng lại cho các hộ trong làng. Chính vì phục vụ nhu cầu tín ngưỡng nên tranh làng Sình thường được làm nhiều từ khoảng tháng 10 âm lịch cho đến mồng 10 tháng Giêng.

Tranh làng Sình hoàn toàn làm thủ công. Để hoàn thành một bức tranh, phải trải qua 7 công đoạn gồm xén giấy, quét điệp, in tranh trên mộc bản, phơi tranh, pha màu, tô màu, cuối cùng là điểm nhãn. Để tạo ra giấy in những bức tranh truyền thống, người dân làng Sình xuôi thuyền dọc phá Tam Giang về vùng cầu Hai, thị trấn Lăng Cô để cào điệp. Đây là loại sò có vỏ mỏng nhiều màu sắc. Sò sau khi cào về giã thành bột, rồi trộn với hồ, sau đó phết hỗn hợp này hai lần lên giấy dó. Đây cũng là nét độc đáo, riêng biệt của dòng tranh dân gian ở làng Sình.

Những màu chủ yếu trên tranh làng Sình là xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục và được làm ra từ yếu tố thiên nhiên. Màu vàng làm từ lá đung giã với búp hoa hòe non, màu xanh dương từ hạt mồng tơi, hạt hòe làm nên màu vàng đỏ, nước lá bàng sẽ cho màu đỏ sẫm, tro rơm nếp hòa tan trong nước rồi lọc sạch, cô lại thành màu mực đen bóng. Ngoài ra người làng Sình còn dùng đá son để lấy màu đỏ, bột gạch để có màu đơn. Hiện nay, để thuận tiện và đỡ tốn kém, người làm tranh ở làng Sình đã chuyển sang sử dụng giấy công nghiệp, phẩm màu công nghiệp. Chỉ duy nhất gia đình ông Phước vẫn trung thành với vật liệu giấy dó và pha chế màu tự nhiên.

Mỗi bức tranh làng Sình là một mộc bản hoàn chỉnh với những hoa văn, hình thù khác nhau. Vậy nên trước khi in tranh, người làm phải tạo ra được mộc bản, công việc này đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao, óc thẩm mỹ mới có thể chế tác ra những mộc bản chuẩn. Khi làm ra một bức tranh, bản khắc gỗ chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính. Còn lại, người làm tranh phải tô những màu sắc khác lên các chi tiết theo nội dung của tranh. Do vậy, mỗi bức tranh làng Sình sẽ không có bức nào giống bức nào.

Tết Nhâm Dần 2022: Độc đáo tranh dân gian làng Sình ảnh 3Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước khắc mộc bản để in tranh. Ảnh: Tường Vi – TTXVN

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước được cho là người cuối cùng biết chế tác và khắc nét tranh đúng theo lối làm tranh dân gian làng Sình cổ. Vì vậy, để nghề làm tranh và khắc mộc bản của tranh làng Sình không bị mai một, Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đã truyền dạy cách khắc bản vẽ cho các thanh niên trong làng. Hiện nay, có gần 70% số gia đình của làng Sình tham gia làm tranh dân gian truyền thống này.

Nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân và làm phong phú hơn các mẫu tranh làng Sình nghệ nhân Kỳ Hữu Phước còn sáng tạo thêm các mộc bản, in thêm dòng tranh trang trí trên giấy dó. Nhiều đề tài được nghệ nhân khai thác ngoài dòng tranh thờ cúng như tranh phản ánh đời sống và sản xuất như tranh lễ hội, các trò chơi, tranh bát âm, bộ lịch 12 con giáp…Hiện nay, căn nhà của Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đã trở thành điểm được nhiều đơn vị lữ hành kết nối, thu hút du khách đến tham quan, tìm hiểu và trải nghiệm công đoạn làm tranh.

Tranh dân gian làng Sình luôn có một vị trí đặc biệt trong tâm thức người dân xứ Huế và các vùng lân cận. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phan Thanh Bình, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nghệ thuật thuộc Đại học Huế, trong tranh làng Sình, sự bố trí phối hợp các màu đạt được sự hài hòa, thuận mắt, không mang tính công thức quá chặt chẽ, bởi kết quả của nó được đánh giá bằng cảm nhận về tương quan màu vừa mang tính dân gian thuần khiết, vừa chịu ảnh hưởng cung đình trên nền tư tưởng triết lý vũ trụ, nhân sinh phương Đông. Kết quả tạo màu trong tranh làng Sình rất phong phú do cảm nhận thị giác và thói quen khác nhau. Mỗi nghệ nhân tạo ra một xu hướng phối màu riêng của họ từ cách đặt các màu cạnh nhau. Nhiều gia đình đã duy trì nghề làm tranh dân gian truyền thống này vì một phần vừa kiếm thêm thu nhập trong thời gian nhàn rỗi, một phần để duy trì nghề truyền thống của tổ tiên để lại.

Trải qua bao biến cố thăng trầm, nghề làm tranh ở làng Sình đang từng bước được khôi phục và phát huy giá trị. Nơi đây trở thành điểm du lịch hấp dẫn, thu hút nhiều du khách khi đến vùng đất Cố đô. Những bức tranh làng Sình đã theo chân khách du lịch đi khắp nơi không chỉ trong nước mà còn ra nước ngoài.

Tường Vi

Tường Vi ((TTXVN))

Có thể bạn quan tâm

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Hiện nay, tập quán nuôi chó thả rông, không xích nhốt và không đeo rọ mõm, đặc biệt tại khu vực nương rẫy trên địa bàn thành phố Đồng Nai vẫn còn rất phổ biến. Thực trạng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho virus dại lây truyền chéo giữa động vật hoang dã, chó thả rông và đàn chó nuôi tại các hộ gia đình.

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Trà Leng là vùng đất nổi tiếng với danh xưng “cao sơn ngọc quế” nhưng nơi đây cũng thường được nhắc đến như vùng “tâm chấn sạt lở” ở khu vực miền núi phía Tây thành phố Đà Nẵng.

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Trước diễn biến phức tạp của tình trạng sụt lún và nứt gãy tại đoạn Km136+800 - Km136+900 trên tuyến Quốc lộ 28, khu vực giáp ranh giữa xã Phúc Thọ Lâm Hà và xã Tà Đùng, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đang khẩn trương triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Từ xa xưa, nhà rông đã là không gian sinh hoạt chung, là biểu tượng văn hóa của buôn làng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.