Tín dụng chính sách giúp đồng bào Khmer thoát nghèo bền vững

Đồng bào Khmer ở Cà Mau có trên 32.000 hộ với gần 140.000 nhân khẩu, chiếm gần 6,5% dân số. Những năm qua, với sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực vươn lên, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào không ngừng được cải thiện. Đặc biệt, việc hỗ trợ sinh kế thông qua nguồn vốn tín dụng chính sách đã mang lại cho nhiều gia đình Khmer cơ hội thoát nghèo.

tin-dung-1.jpg
Ngân hàng chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi giúp đồng bào Khemr phát triển kinh tế, thoát nghèo. Ảnh: TTXVN phát

Sử dụng vốn hiệu quả

Những ngày này, gia đình anh Sơn Seng (khóm Giồng Giữa A, phường Hiệp Thành) đang tất bật chăm sóc vụ hành sắp bước vào thu hoạch. Công việc tuy vất vả nhưng ai nấy đều rất vui vì trúng mùa lại được giá. Ba năm trước, anh Seng thuộc diện hộ nghèo, có đất sản xuất nhưng thiếu vốn. Được Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Bạc Liêu cũ cho vay 15 triệu đồng từ nguồn vốn tín dụng chính sách, anh Seng cải tạo đất rẫy trồng hành và ớt. Sản xuất hiệu quả, anh Seng trả nợ vay đúng hạn. Sau lần vay đầu tiên, gia đình anh Seng lần lượt được vay thêm nhiều lần với số tiền vay sau cao hơn trước.

Bệ đỡ từ nguồn vốn chính sách xã hội không chỉ giúp gia đình anh Seng sản xuất hiệu quả, thoát được nghèo, mà còn có vốn tích lũy đầu tư máy móc, cơ giới hóa trong sản xuất. Anh Seng cũng được tín nhiệm làm Tổ trưởng Tổ vay vốn, với trên 50 tổ viên là đồng bào dân tộc Khmer của khóm. Các thành viên trong tổ đều sản xuất hiệu quả, thoát nghèo vươn lên trong cuộc sống.

Không riêng gì anh Seng, nhiều hộ gia đình đồng bào Khmer khác cũng thoát nghèo từ vốn vay tín dụng chính sách. Ông Lý Tỷ (khóm Biển Đông A, phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau) cho biết, năm 2020, ông được Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Bạc Liêu cũ hỗ trợ cho vay 60 triệu đồng để phát triển sản xuất. Từ nguồn vốn này, ông đầu tư cải tạo 3 công đất để trồng trên 100 gốc nhãn. Sau hai năm, nhãn cho trái, gia đình ông thu hoạch mỗi năm hai vụ, trừ chi phí, lợi nhuận thu về hơn 50 triệu đồng/năm. Bên cạnh cây nhãn, ông Tỷ còn trồng rau màu, trung bình mỗi ngày gia đình có thu nhập từ 200.000 - 300.000 đồng. Lợi nhuận từ trồng nhãn và rau màu hằng năm trên 100 triệu đồng, không chỉ giúp cho gia đình ông Tỷ thoát nghèo mà còn có vốn tích lũy mua sắm các vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình.

“Nguồn vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội không chỉ mang lại cơ hội thoát nghèo, phát triển kinh tế cho gia đình tôi, mà còn nhiều hộ gia đình Khmer khác trong khóm. Được tiếp cận nguồn vốn này, người dân không phải vay bên ngoài với lãi suất cao”, ông Lý Tỷ chia sẻ.

Ngân hàng chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) tổ chức ký kết hợp đồng ủy thác cho vay với các tổ chức chính trị xã hội. Ảnh: TTXVN phát

Ngân hàng chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) tổ chức ký kết hợp đồng ủy thác cho vay với các tổ chức chính trị xã hội. Ảnh: TTXVN phát

Ông Dương Quốc Khải, Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) cho biết, những năm qua, việc hỗ trợ người dân, đặc biệt là hộ đồng bào dân tộc Khmer tiếp cận vốn vay ưu đãi được đơn vị triển khai kịp thời. Các chương trình vay vốn đều được ủy thác thông qua tổ chức hội, đoàn thể, các tổ tiết kiệm. Hiện, Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Bạc Liêu quản lý trên 10 nghìn hộ gia đình, trong đó có trên 3 nghìn hộ người Khmer.

Đánh giá về hiệu quả nguồn vốn vay ưu đãi chính sách xã hội trong đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn, ông Dương Quốc Khải cho rằng: “Nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Đặc biệt, nguồn vốn vay ưu đãi đã giúp người dân nói chung, đồng bào dân tộc Khmer nói riêng có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Nhờ được vay vốn với lãi suất ưu đãi, nhiều gia đình có tiền đầu tư mua sắm cây trồng, vật nuôi cùng như các công cụ, vật tư phục vụ sản xuất” .

Tại Hưng Hội, xã có đông đồng bào dân tộc Khmer nhất của tỉnh Cà Mau, ông Nguyễn Hoàng Em, Phó Chủ tịch UBND xã chia sẻ, để giúp đồng bào dân tộc Khmer có điều kiện phát triển kinh tế gia đình, Đảng ủy, UBND xã chủ động chỉ đạo các đoàn thể chính trị, xã hội của xã xây dựng kế hoạch, triển khai đưa nguồn vốn vay ưu đãi đến với các hộ thuộc diện được thụ hưởng để thực hiện tốt công tác giảm nghèo.

Vận dụng chính sách hiệu quả

Từ nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội, nhiều hộ gia đình Khmer của phường hiệp Thành (tỉnh Cà Mau) có điều kiện đầu tư phát triển mô hình trồng cây ăn quả, nâng cao thu nhập. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Từ nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội, nhiều hộ gia đình Khmer của phường hiệp Thành (tỉnh Cà Mau) có điều kiện đầu tư phát triển mô hình trồng cây ăn quả, nâng cao thu nhập. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Theo ông Nguyễn Hoàng Em, để phát huy hiệu quả nguồn vốn vay, các hội, đoàn thể thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn những hộ vay vốn sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, hiệu quả. Nguồn vốn vay tín dụng chính sách xã hội đã giúp nhiều hộ dân ở Hưng Hội thoát nghèo. Nếu như trước đây, Hưng Hội có tỷ lệ hộ nghèo khá cao thì nay đã giảm xuống chỉ còn 1%. Nhiều hộ vươn lên mức sống trung bình, khá. Nhiều hộ có thu nhập cả tỷ đồng mỗi năm.

Ông Lương Văn Pho, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau cho biết, những năm qua, cùng với các chương trình an sinh xã hội, nguồn vốn tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội đã trở thành "điểm tựa" quan trọng giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo, nhất là các hộ trong vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình, nâng cao đời sống và từng bước thoát nghèo bền vững. Hiện nay, hộ nghèo trong đồng bào Khmer tại Cà Mau đã giảm xuống còn gần 2,3% tổng số hộ người Khmer tại tỉnh. Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi từ những hộ Khmer nghèo ở Cà Mau là minh chứng cho thấy vai trò quan trọng của tín dụng chính sách đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn 2026 – 2030, tỉnh Cà Mau phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer xuống còn dưới 1 %, vùng đồng bào dân tộc thiểu số không còn địa bàn đặc biệt khó khăn.

Chăn nuôi lợn là một trong những mô hình giúp nhiều hộ gia đình người Khmer giảm nghèo, phát triển kinh tế. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Chăn nuôi lợn là một trong những mô hình giúp nhiều hộ gia đình người Khmer giảm nghèo, phát triển kinh tế. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Để thực hiện mục tiêu này, Sở Dân tộc và Tôn giáo sẽ tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo rà soát, triển khai áp dụng thực hiện các cơ chế chính sách theo quy định và văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh.

Cùng với đó, Sở phối hợp các cấp, ngành đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đồng bào dân tộc Khmer về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác giảm nghèo; quan tâm hơn nữa tới phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; nâng cao thể chất lực lượng lao động; đào tạo nghề, việc làm, hỗ trợ sinh kế cho người nghèo vùng dân tộc Khmer. Đặc biệt, Sở phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 30/10/2024 của Ban Bí thư về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách trong giai đoạn mới. Theo đó, các đơn vị tiếp tục rà soát, thẩm định các hộ đủ điều kiện vay vốn theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP của Chính phủ, kịp thời giải ngân các nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất.

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội có vai trò hết sức quan trọng, góp phần giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác có có vốn làm ăn, có việc làm, vươn lên thoát nghèo, phát triển kinh tế gia đình./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Trong hành trình phát triển của đất nước, Đảng bộ, chính quyền thành phố Cần Thơ đã thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng người dân tộc thiểu số (DTTS). Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ để làm rõ hơn về vấn đề này.